LUẬT GIỮA VÒNG VÂY LỢI ÍCH

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cũng vì việc vận động diễn ra công khai mà xã hội, tức là công luận, người dân có điều kiện theo dõi và giám sát việc cân nhắc, lựa chọn của người nắm quyền lực công giữa các phương án xây dựng, áp dụng pháp luật khác biệt.

image Dùng thế lực để chi phối việc làm luật cũng như việc thi hành luật là hiện tượng xã hội ở đâu thời nào cũng có: đơn giản, ai cũng muốn luật pháp phục vụ hơn là gây khó khăn cho mình.

Tuy nhiên, trong điều kiện các lợi ích được theo đuổi rất khác biệt, thậm chí đối lập nhau, sự tác động từ bên ngoài đối với người làm luật, người thi hành luật có thể mang dáng dấp của một cuộc tranh giành loại trừ: người được, thì kẻ mất; ở đây có người được đãi ngộ, nuông chiều, thì hẳn đồng thời ở đằng kia có người khác bị ruồng bỏ, bạc đãi. Chẳng hạn, bằng việc cho phép doanh nghiệp xăng dầu tăng giá bán, nhà chức trách đặt người tiêu dùng trong tình trạng buộc phải chi thêm (nghĩa là mất) một số tiền để mua cũng chừng đó nhiên liệu; phê duyệt một dự án quy hoạch xây dựng sân golf trên một vùng đất ruộng cũng đồng nghĩa với việc từ chối duy trì quyền canh tác, quyền định cư của những người nông dân đang sống trên đất đó.

Nếu cứ để mặc cho cuộc chơi dưới sự thống trị của quy luật hoang sơ “mạnh được, yếu thua”, thì sớm muộn gì các vùng đất “làm luật” và “thi hành luật” sẽ bị phe mạnh nhất đánh chiếm; hệ thống pháp lý tất yếu sẽ đi đến chỗ bị phân đôi, tương ứng với sự phân đôi của xã hội thành bên thắng, bên thua: quyền lợi và sự bảo đảm sẽ được ưu tiên dành cho một bộ phận thành viên có sức mạnh khống chế, còn gọi là tầng lớp trên; còn nghĩa vụ, rủi ro chủ yếu trút lên vai những thành viên yếu hơn, ở tầng lớp dưới. Người giàu có thể vào nhà người nghèo chẳng cần xin phép; còn người nghèo mà tự tiện đi vào đất của người giàu thì coi chừng bị chó dữ cắn chết, như trường hợp chết bi thảm của người phụ nữ mót cà phê mà báo chí và dư luận đề cập thời gian gần đây.

Đọc tiếp »

SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG VÀ MỘT VÀI LƯU Ý TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng là nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng và cũng là một nguyên tắc luật định. Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng được thực hiện một cách suôn sẻ hoặc hoàn hảo. Vẫn có những biến cố xẩy ra làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng của các bên. Trong đó có những sự cố nằm ngoài khả năng dự đoán và kiểm soát của các bên, và xẩy ra không phải do lỗi của các bên. Khi những sự cố này làm cho một bên không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của mình thì vấn đề trách nhiệm sẽ ra sao? Hợp đồng có nên tiếp tục được thực hiện hay không? Là những câu hỏi sẽ được giải đáp bởi cơ chế "sự kiện bất khả kháng" trong luật hợp đồng.

1. Sự kiện bất khả kháng

Ngày 10/10/2008, Công ty A (Việt Nam) ký hợp đồng xuất khẩu dưa chuột cho công ty B (Singapore), thời hạn giao hàng là 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 20/10/2008, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Nhưng mãi đến tận 15/01/2009, Công ty A vẫn không giao hàng cho Công ty B. Công ty B khiếu nại thì Công ty A trả lời rằng do trong thời gian tháng 11/2008, lũ lụt xẩy ra ở khu vực Bắc Bộ của Việt Nam ảnh hưởng đến vụ mùa dưa chuột, nên không thể gom đủ hàng giao cho Công ty B, vì vậy Công ty A đề xuất hoàn trả lại tiền cho Công ty B và đề nghị được miễn trách nhiệm vì lý do bất khả kháng. Vấn đề đặt ra là sự kiện lũ lụt ở khu vực Bắc Bộ có phải là sự kiện bất khả kháng trong trường hợp này hay không?

Ngày 15/12/2009, Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lô hải sản sang EU cho công ty B có trụ sở tại EU. Theo quy định của Hợp đồng thì hàng phải được giao tại cảng của EU trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày mở L/C không huỷ ngang. Ngày 25/12/2009, Ngân hàng công ty B mở L/C không huỷ ngang cho người thụ hưởng là Công ty A. Tuy nhiên hàng đến chậm so với dự kiện 20 ngày, Công ty A nại lý do hàng đến chậm vì việc cơ quan hành chính Việt Nam còn lúng túng trong việc triển khai cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU nên thủ tục hành chính chậm chạp dẫn đến việc hàng đến chậm so với dự kiến và đề nghị được miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng. Vậy việc cơ quan hành chính Việt Nam túng túng, chậm trễ trong việc triển khai thủ tục cấp giấy chứng nhận khai thác theo quy chế IUU của EU có phải là sự kiện bất khả kháng hay không?

Đọc tiếp »

QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP: CÓ MỘT “TỪ HẢI” THỜI NAY…

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam

Đã hai năm nay, nhiều người thân gọi đùa ông K., Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần KHB (vì lý do tế nhị, tên công ty và các nhân vật đã được thay đổi) là ông Từ Hải thời @, tức là ông K. đang bị “chết đứng”. Nhưng không phải ông K. chết đứng vì ái tình mà vì sự việc hy hữu của công ty cổ phần nơi ông là chủ tịch hội đồng quản trị. Kể câu chuyện của ông K. thiết nghĩ cũng bổ ích và lý thú đối với việc kinh doanh và luật pháp ở Việt Nam.

Tóm tắt sự việc

Đầu năm 2008, bốn người tâm đắc gồm các ông K., H., B., Đ. hợp tác, góp vốn thành lập Công ty cổ phần KHB, kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, tư vấn chuyển giao công nghệ, tổ chức sự kiện, đào tạo, quảng cáo… vốn là thế mạnh về chuyên môn của cả bốn người, đặc biệt là của ông K. và ông H. – những người đã có học vị tiến sĩ chuyên ngành. Số vốn điều lệ của công ty là 1 tỉ đồng, trong đó ông K. góp 300 triệu, ông H. 300 triệu, ông B. 200 triệu và ông Đ. 200 triệu đồng. Đáng lưu ý là ông B. và ông Đ. là hai anh em ruột. Ông B. được bầu làm Tổng giám đốc – người đại diện theo pháp luật của công ty, còn ông K. là Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Tháng 3-2008, việc góp vốn hoàn tất. Công ty đã thuê văn phòng và khai trương hoạt động. Ngay khi góp vốn, một sự kiện không bình thường đã xảy ra: ông Đ. đề nghị ông K. cho vay 200 triệu đồng để góp vốn và sẽ trả trong thời hạn 10 ngày. Ông K. đã đồng ý cho vay, ông Đ. đã có tên trong danh sách các cổ đông sáng lập và phiếu thu tiền góp vốn là 200 triệu đồng.

Nhưng sau đó, dù đã đôn đốc rất nhiều lần, ông Đ. vẫn không thanh toán trả cho ông K.Từ tháng 5 đến tháng 8-2008, ông B. – Tổng giám đốc công ty – đã lập nhiều giấy biên nhận “tạm ứng” tiền của công ty với tổng số tiền 400 triệu đồng. Sau khi đã “ứng” đủ 400 triệu đồng, ông B. bỗng dưng biến mất, không hề đến công ty nữa.

Đọc tiếp »

HÃY BỎ TRẦN LÃI SUẤT

TS. NGUYỄN QUANG A

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa có quyết định cho phép các ngân hàng thương mại có thể cho vay trung dài hạn theo lãi suất thoả thuận. Đây là một bước đi đúng hướng, tuy có muộn.

Trong thời gian qua có quá nhiều biện pháp hành chính đã được dùng trong nền kinh tế, gây lo ngại về xu hướng quay lại cách quản lý thời xưa đã bị cuộc sống phủ định. Ngân hàng Nhà nước có các công cụ “thị trường” của mình để điều tiết và nên huỷ bỏ các biện pháp hành chính, nhất là các loại trần lãi suất.

Dùng các trần lãi suất luôn làm méo mó thị trường, và các ngân hàng thương mại muốn hoạt động bình thường đều phải “lách”. Họ lách trần lãi suất cho vay bằng cách thu các loại phí.

Trần huy động tiền gửi thực ra không có, nhưng nếu bất cứ ngân hàng thương mại nào huy động trên 10,5%/năm là bị nhắc nhở, thanh tra toàn diện luôn. Các ngân hàng lại phải “lách” bằng cách thưởng, khuyến mãi đủ loại. Chi phí thực về huy động của các ngân hàng có khi lên đến 12%/năm hay hơn (gửi nhiều có thể được hưởng “lãi suất thật” lên đến 12 thậm chí 13%/năm). Họ không thể cho vay 13%/năm vì sẽ lỗ nặng.

Và như thế, khi cho vay, do bị trần lãi suất ràng buộc nên lãi suất ghi trên hợp đồng danh nghĩa luôn là mức trần (12%/năm), nhưng cái giá thật (lãi suất thực mà người vay phải trả) đã ở mức 15-17%/năm từ nhiều tháng nay rồi. Đó là thực tế cuộc sống, không thể trách các ngân hàng “lách” luật. Quy định chưa sát, không ăn nhập với cuộc sống, buộc họ phải làm vậy và làm thế không vi phạm luật hiện hành.

Đọc tiếp »

THỦ TỤC TỐ TỤNG PHẢI CHẶT CHẼ

PHẠM THÁI QUÍ

Báo ĐBND ra ngày 5.3.2010 có đăng bài “Thủ tục tố tụng còn phiền hà” của tác giả Phạm Dân. Sau khi đọc bài viết thấy rằng, công tác cải cách tư pháp mà đặc biệt là việc xây dựng pháp luật liên quan đến công tác tư pháp là vấn đề quan trọng được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, để có sự nhìn nhận đúng đắn, tôi thấy cần tham gia trao đổi về vấn đề mà tác giả đã nêu trong bài viết.

Nếu những ai quan tâm đến đời sống chính trị – xã hội dễ nhận thấy rằng, thời đại ngày nay đã có sự chuyển biến mạnh mẽ của tất cả các hình thức nhà nước, đó là đã giảm dần chức năng cai trị mà thay vào đó là chức năng phục vụ nhân dân. Theo đó, các quyền con người của mọi cá nhân phải được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Những bảo đảm đó chỉ có thể được thực hiện trọn vẹn trong một nhà nước pháp quyền (nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải lấy tinh thần thượng tôn pháp luật làm đầu…). Thể hiện của sự tiến bộ trong quan hệ giữa Nhà nước và người dân, đó là đối với người dân thì được phép làm những gì mà pháp luật không cấm, nhưng đối với cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước thì chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi hoạt động công vụ của cơ quan, của cán bộ, công chức nhà nước liên quan đến quyền lợi của người dân ngày càng được pháp luật quy định cụ thể và kiểm soát chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong các lĩnh vực tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.

Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và triển khai thực hiện việc xây dựng nhà nước pháp quyền, tiến hành công cuộc cải cách tư pháp mà trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động của các cơ quan tư pháp được đặc biệt chú trọng. Thực hiện theo đúng tinh thần nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, hệ thống pháp luật của nước ta trong những năm qua đã được xây dựng, hoàn thiện dần theo hai xu hướng trái ngược nhau, đó là: Đối với hành lang pháp lý để người dân thực hiện các quyền công dân (sử dụng pháp luật) như: đăng ký kinh doanh, thương mại, hành nghề, thực hiện các quyền về cư trú, hộ tịch… thì quy định ngày càng thông thoáng. Còn đối với hành lang pháp lý để các cơ quan nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người dân (áp dụng pháp luật) như: xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là hệ thống pháp luật tố tụng (hình sự, dân sự và theo nghĩa rộng gồm cả thủ tục thi hành án hình sự, dân sự)… thì quy định ngày càng chặt chẽ và kín kẽ. Hai xu hướng này phù hợp với nhu cầu của xã hội trong cuộc sống văn minh, hiện đại và nhân văn.

Đọc tiếp »

VƯỚNG MẮC TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ

NGUYỄN PHƯƠNG MINH – Vietcombank

Trong thời gian gần đây, các ngân hàng thương mại (NHTM) nước ta đã đẩy mạnh việc cung ứng các sản phẩm ngân hàng bán lẻ trong đó có nghiệp vụ cho vay mua nhà trả góp. Đối tượng khách hàng nhắm đến của nghiệp vụ này thường là các cặp vợ chồng trẻ, hoặc các gia đình có mức thu nhập trung bình chưa đủ khả năng mua nhà.

Tuy nhiên, đối với bất kỳ NHTM nào thì điều kiện tiên quyết khi cung cấp sản phẩm này là người mua nhà phải thế chấp ngôi nhà sẽ mua cho ngân hàng cho đến khi nợ vay được thanh toán đầy đủ. Vấn đề đặt ra ở đây, là vào thời điểm ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng, người mua chưa có quyền sở hữu đối với căn nhà đó.

Câu chuyện sẽ rất đơn giản nếu chúng ta áp dụng điều 320 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó “vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”.

Theo hướng dẫn tại điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm thì “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm”.

Căn cứ theo các quy định này ngân hàng và bên vay (bên mua nhà) có thể tiến hành ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Với việc ký kết hợp đồng này các quyền lợi của ngân hàng với tư cách là bên nhận thế chấp đã được bảo đảm.
Tại điều 8 Nghị định 163 quy định: “Đối với tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảo đảm chưa đăng ký thì bên nhận bảo đảm vẫn có quyền xử lý tài sản khi đến hạn xử lý”.

Đọc tiếp »

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT Ở ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TS. PHẠM TRÍ HÙNG – Đại học Luật TPHCM

Ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta đang cần một sự đổi mới toàn diện: đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp đào tạo, đổi mới đánh giá kết quả đào tạo…trong đó đổi mới chương trình đào tạo được coi là bước đột phá và có tầm quan trọng đặc biệt.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo cử nhân Luật (Chương trình đào tạo), đưa ra một số ý kiến về định hướng đổi mới và nêu một số vấn đề cần giải quyết trong xây dựng Chương trình đào tạo ở Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Nhiều vấn đề trình bày ở đây có thể là không mới nhưng được nhắc lại với mong muốn hệ thống hoá, cung cấp một góc nhìn về nhu cầu và những vấn đề đặt ra trong đổi mới Chương trình đào tạo.

1. Tính cấp thiết của đổi mới Chương trình đào tạo

Nghị quyết số 08, Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là những cơ sở quan trọng để Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tập trung mọi nguồn lực xây dựng nhà trường trở thành trường đại học trọng điểm, mở ra cơ hội tăng tốc đầu tư và phát triển nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như hướng phát triển lâu dài trong tương lai. Ngày 21 tháng 9 năm 2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 6002/QĐ-BGDĐT phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh đến năm 2020” theo đó mục tiêu tổng quát đã được phê duyệt là: “Xây dựng Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh thành một cơ sở đào tạo đa ngành, trong đó ngành Luật là trọng tâm; một cơ sở nghiên cứu khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học pháp lý ở phía Nam với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị tiên tiến; áp dụng những thành tựu, phương tiện hiện đại và chương trình tiên tiến trong đào tạo, nhằm tạo ra môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập, để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo góp phần phục vụ cộng đồng, mở rộng quan hệ quốc tế rộng rãi, đáp ứng yêu cầu của phát triển và hội nhập”.

Đọc tiếp »

XU THẾ TẤT YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG M&A TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TS. THÂN THỊ THU THỦY

Theo qui định của Nghị định 14/2007/NĐ-CP thời hạn tăng vốn pháp định của công ty chứng khoán lên 300 tỷ đồng là ngày 31/12/2008, nhưng hiện nay có rất nhiều công ty chứmg khoán phải đứng trước sự lựa chọn tăng vốn hay giảm nghiệp vụ kinh doanh. Một lần nữa, bài toán sáp nhập và mua bán công ty chứng khoán đã trở thành một vấn đề quan tâm của mọi thành viên tham gia thị trường.

1. Hoạt động sáp nhập và mua bán M&A

M&A là một hoạt động không xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới .Xuất hiện ở VN từ những năm 2000, hiện nay hoạt động này đang có xu hướng phát triển mạnh, nhất là trong lĩnh vực tài chính –ngân hàng. Sáp nhập là việc một hay nhiều công ty chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình cho một công ty khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Bên bị sáp nhập gọi là công ty mục tiêu. Mua lại là việc một công ty mua lại hay thâu tóm toàn bộ hoặc một phần tài sản của công ty khác. Hợp nhất là hình thức hai hay nhiều công ty sẽ chuyển toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình , quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp để hình thành nên một công ty mới và kết thúc sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.

Trong thực tế ít xảy ra sáp nhập hay hợp nhất mà thường là mua lại, bởi vì sáp nhập và hợp nhất đòi hỏi sự hợp tác rất cao giữa các bên tham gia, trong đó cả hai bên phải cùng nhìn thấy được triển vọng của thương vụ và đặc biệt những cuộc hợp nhất luôn đỏi hỏi sự tương đồng và cân bằng về năng lực quản lý, năng lực tài chính … để cùng chia sẻ trên tinh thần hợp tác cao nhất.

Theo Andrew J.Sherman và Milledge A.Hart thì có nhiều lý do để làm cho xu hướng M&A ngày càng phát triển :

-M&A là cách thức hiệu quả để xâm nhập vào một thị trường mới. Và M&A cũng là phương cách hiệu quả để tiếp cận, mở rộng hoạt động và thị trường ra quốc tế

-M&A là cách để sở hữu những tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp khác.

-Việc thu hút vốn sau M&A có triển vọng hơn và nhất là có sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ.

Đọc tiếp »

NHÌN NHẬN ĐÚNG VAI TRÒ CỦA FDI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN MINH NGỌC

Những tác động tiêu cực của vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không phải là thuộc tính riêng, và chúng thường là hệ quả của các chính sách và chất lượng quản lý kinh tế. Đây là điều các nhà hoạch định chính sách cần chú ý khi hoạch định một chính sách tổng thể về FDI ở Việt Nam.

Con số vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện qua từng tháng, quý và năm luôn thu hút sự chú ý đặc biệt của nhiều người. Rất thường xuyên, những con số này được coi đồng nghĩa với thước đo thành công của chính sách phát triển kinh tế cũng như môi trường kinh doanh của Việt Nam. Bởi vậy, việc duy trì và không ngừng làm cho những con số này tăng lên là điều đặc biệt quan trọng đối với các cấp chính quyền, và cũng vì vậy mà người ta có xu hướng chạy đua, châm trước, và đưa ra quá nhiều ưu đãi để kéo nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền của vào Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng. FDI thường được nhìn nhận như một liều thuốc đại bổ cho nền kinh tế thiếu dinh dưỡng và không mấy ai mảy may nghĩ đến mặt trái của tấm huy chương FDI.

Bởi vậy, dường như chỉ mới gần đây những tác động tiêu cực của FDI mới được bộc lộ rõ nét và mới được công luận chú ý và bắt đầu có cái nhìn mang tính phê phán hơn so với cái nhìn mầu hồng mang nặng tính thực dụng trước đây. Mặt trái của tấm huy chương FDI thường được liệt kê dưới những tác động tiêu cực như gây ô nhiễm môi trường, thôn tính thị trường trong nước, hoặc có những hành vi thao túng giá cả. Một số ít thì chỉ ra rằng FDI vào các ngành dịch vụ nhiều một cách tương đối thì làm tăng thêm thâm hụt cán cân mậu dịch (tức là nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu). Thậm chí có người còn quy kết FDI làm tăng tính bất ổn định xã hội với nhiều vụ đình công v.v…

Đọc tiếp »

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI VIẾT ĐIỀU LỆ CHO CÔNG TY

LG. TRẦN MINH SƠN – Bộ Tư pháp

Luật Doanh nghiệp của Việt Nam không định nghĩa bản điều lệ là gì mà chỉ liệt kê các nội dung chính nó phải có (Điều 22 Luật Doanh nghiệp năm 2005)[1]. Luật công ty mẫu của Mỹ cũng không định nghĩa Bản điều lệ là gì. Còn từ điển về luật của Mỹ thì giải nghĩa đó là những điều khoản hành chính do một tổ chức lập nên để quy định công việc quản trị bên trong và giao dịch với bên ngoài của tổ chức ấy.

Nói một cách dễ hiểu thì Bản điều lệ là bản thỏa thuận giữa những người sáng lập công ty với các cổ đông và giữa các cổ đông với nhau cùng được soạn căn cứ trên những khuôn mẫu chung của luật pháp (luật doanh nghiệp, luật thuế, luật lao động, luật tài chính, kế toán…) để ấn định cách tạo lập, hoạt động và giải thể của một doanh nghiệp.

Trên ý nghĩa đó cho thấy, bản điều lệ giống như một bản hợp đồng có “tính chất quy định”. Tuy nhiên, vì công ty là “tổ chức do luật pháp đặt ra” nên khác với các bản hợp đồng thông thường, bản điều lệ có thể trưng ra được cho những người thứ ba và buộc họ phải chấp nhận “tính chất đối kháng” khi giao dịch với công ty. Ví dụ, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng…

Do “tính chất đối kháng” của bản điều lệ nên các ngân hàng và những người muốn mua, đầu tư công ty xem bản điều lệ rất kỹ; thậm chí cả các văn bản mà đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị ban hành theo các quy định của bản điều lệ để biết công ty được làm gì nhằm ràng buộc nó vào hành vi mà nó muốn thực hiện với họ (vay tiền, hay bán Công ty, kêu gọi đầu tư…).

Đọc tiếp »

KHUNG GIÁ ĐẤT CÁC TỈNH THÀNH TRONG CẢ NƯỚC NĂM 2010

Ghi chú: (chưa cập nhật) có nghĩa giá đất ở địa phương chưa được cập nhật năm 2010, tạm thời theo thông tin giá đất năm 2008 hoặc 2009

A. GIÁ ĐẤT CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
1. HÀ NỘI
 

Địa bàn

Giá đất

Quận Hai Bà Trưng Download
Quận Ba Đình Download
Quận Đống Đa Download
Quận Hoàng Mai Download
Quận Cầu Giấy Download
Quận Long Biên Download
Quận Tây Hồ Download
Quận Thanh Xuân Download
Quận Hoàn Kiếm Download

Quận Hà Đông

Download
Đất Nông Nghiệp Download

Thị xã Sơn Tây

 
Thành phố Sơn Tây Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Ba Vì

 
Thị trấn Tây Đằng Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Chương Mỹ

 
Các thị trấn thuộc huyện Chương Mỹ Download
Ven Trục giao thông Download

Huyện Đan Phượng

 
Thị trấn Phùng Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Đông Anh

 
Huyện Đông Anh Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Gia Lâm

 
Các thị trấn thuộc huyện Gia Lâm Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Khu vực giáp ranh Download

Huyện Hoài Đức

 
Thị trấn Trạm Trôi Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Mê Linh

 
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Mỹ Đức

 
Thị trấn Đại Nghĩa Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Phú Xuyên

 
Các thị trấn thuộc huyện Phú Xuyên Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Phúc Thọ

 
Thị trấn Gạch Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Quốc Oai

 
Thị trấn Quốc Oai Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Sóc Sơn

Thị trấn Sóc Sơn Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Thạch Thất

 
Thị trấn Liên Quan Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Phân loại xã Download

Huyện Thanh Oai

 
Thị trấn Kim Bài Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Thanh Trì

 
Các thị trấn Văn Điền Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Khu vực giáp ranh Download

Huyện Thường Tín

 
Thị trấn Thường Tín Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Huyện Từ Liêm

 
Các thị trấn Cầu Diễn Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download
Khu vực giáp ranh Download

Huyện Ứng Hòa

 
Thị trấn Vân Đình Download
Ven Trục giao thông Download
Khu dân cư nông thôn Download

Đọc tiếp »

TRỐN THUẾ HAY TRÁNH THUẾ

LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật P&P

Trong khi trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật thì “tránh thuế” có thể giúp người nộp thuế giảm thiểu số tiền phải đóng mà không trái với quy định pháp luật.

Trốn thuế là đề tài thường được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tùy theo mức độ nghiêm trọng và số tiền trốn thuế, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế theo Điều 161, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2010.

Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuế khác nhau. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bán hàng nước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cá nhân mua bán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai báo đầy đủ doanh thu hay khai khống chi phí (thuế thu nhập doanh nghiệp); cá nhân không kê khai thu nhập chịu thuế (thuế thu nhập cá nhân), hạ giá của hàng hóa mua bán chịu thuế trước bạ (như xe hơi hay nhà ở) để giảm thiểu số thuế trước bạ phải đóng…

Mặc dù luật pháp rất nghiêm khắc đối với việc trốn thuế, nhưng thực tế cho thấy, hành vi này diễn ra khá phổ biến, phức tạp và khó kiểm soát do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan lẫn khách quan. Đó là lý do khiến mọi người thường lầm tưởng rằng, khi có một cá nhân hay tổ chức nào đó tìm cách không đóng thuế thì đó là biểu hiện của việc trốn thuế và phải bị xử phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng đúng như vậy. Trong một số trường hợp, đó là tránh thuế hợp pháp.

Đọc tiếp »

ĐÌNH CÔNG VÀ NHỮNG NÚT THẮT

THS. TRẦN NGỌC THÍCH – Công ty Luật Phuoc & Partners

Những nút thắt trong Luật Lao động đang khiến cho hầu hết các cuộc đình công trở thành bất hợp pháp.

Bên cạnh các thị trường hàng hóa khác nhau ở Việt Nam, không thể không nói đến một loại thị trường đặc biệt, đó là thị trường sức lao động. Đây là nơi diễn ra hoạt động mua bán sức lao động giữa một bên là những người có nhu cầu bán sức lao động (người lao động) và một bên là những người cần mua sức lao động (người sử dụng lao động).

Người lao động luôn có nguy cơ bị người sử dụng lao động khai thác giá trị thặng dư thông qua việc tận dụng sức lao động của họ, như tăng giờ làm, tăng ca, giảm tiền lương, cắt phụ cấp, giảm chi phí mua các trang thiết bị an toàn vệ sinh lao động, hoặc trì hoãn, trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ khác đối với người lao động như đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp… Những điều này đã dẫn đến những phản ứng từ phía người lao động. Biểu hiện mạnh nhất là đình công.

Khó có thể đình công hợp pháp

Pháp luật lao động Việt Nam cho phép người lao động được quyền đình công. Tuy nhiên những quy định hiện nay về đình công còn mang tính hình thức, khiến người lao động hiếm khi sử dụng được quyền đình công một cách hợp pháp để bảo vệ quyền lợi cho mình. Thực tế cho thấy hầu hết các cuộc đình công của người lao động bị xem là bất hợp pháp, phần lớn vì các lý do: không do công đoàn lãnh đạo hoặc không tuân thủ các quy định về việc lấy ý kiến người lao động.

Theo quy định tại Điều 172a của Luật Lao động hiện hành, đình công phải do ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh đạo. Đây là một trong những điều kiện để xem cuộc đình công đó có hợp pháp hay không. Tuy nhiên, một thực tế là các thành viên của ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời lại được chỉ định hoặc được bầu từ người lao động. Hầu hết họ đều hưởng lương và các lợi ích khác từ người sử dụng lao động và đây là nguồn thu nhập chính để trang trải cho cuộc sống của họ. Chưa kể, hiện nay ở nhiều công ty, chủ tịch công đoàn thường kiêm nhiệm các chức danh quản lý trong công ty như giám đốc, phó giám đốc hoặc trưởng, phó các phòng ban.

Đọc tiếp »

TẬP ĐOÀN KINH TẾ: CỞI TRÓI!

TS. PHẠM TRÍ HÙNG

Nghị định 101 của Chính phủ đã góp phần xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 31.12.2008, tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn kinh tế nhà nước (Dầu khí, Than Khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Bưu chính viễn thông) là 128.786 tỉ đồng, tăng 20,54% so với cuối năm 2007, chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế. Những con số này cho thấy hoạt động của các tập đoàn kinh tế đang có nhiều vấn đề.

Thực tế, các tập đoàn kinh tế đang gặp khó khăn trong việc xác định mối quan hệ và liên kết giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phận quản lý trong bộ máy quản lý tập đoàn). Các tập đoàn kinh tế cho rằng, nguyên do nằm ở việc thiếu khung pháp lý điều chỉnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của tập đoàn là quan trọng, nhưng vấn đề không chỉ ở khung pháp lý.

Địa vị pháp lý của tập đoàn kinh tế

Nhằm đóng góp vào khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế tại Việt Nam, ngày 5.11.2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định 101/2009/NĐ-CP về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tập đoàn kinh tế nhà nước (Nghị định 101). Theo Điều 4 Nghị định 101, tập đoàn kinh tế nhà nước được thí điểm thành lập theo nghị định này là nhóm công ty có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ – công ty con và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.

Đọc tiếp »

QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT TỤC CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM – TRƯỜNG HỢP LUẬT TỤC THÁI VÀ LUẬT TỤC Ê ĐÊ

HOÀNG VĂN QUYNH – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

Tóm tắt. Ở các dân tộc thiểu số nước ta từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm hữu đối với của cải vật chất, trong đó có các tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống. Việc xác định quyền sở hữu và chiếm hữu đối với các nguồn tài nguyên này chính là cơ sở để cộng đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua các quy định về quan hệ sở hữu trong các bộ Luật tục của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Trường hợp Luật tục Thái và Luật tục Êđê).

Về vấn đề sở hữu, ở mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển của mỗi cộng đồng mà có các quy định về quan hệ sở hữu khác nhau. Ở đây hầu như chưa có các quan hệ sở hữu về tài sản, mà chủ yếu chỉ xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên, như đất đai, rừng núi, sông suối…

Nhưng các quan hệ sở hữu này lại là sở hữu chung của cả cộng đồng, sở hữu của cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng, động thực vật của cộng đồng dân tộc đó.

Việc xác định quan hệ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với các dân tộc ít người miền núi nói riêng và cả nước nói chung. Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần có những chính sách, biện pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, môi trường. Phát huy truyền thống dân tộc kết hợp với pháp luật của Nhà nước trong việc quản lý đất đai, rừng núi, sông suối và bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái.

1. Quan niệm về vấn đề sở hữu

Vấn đề sở hữu luôn có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc người nào, trong bất cứ một chế độ xã hội nào. Theo Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” (Điều 173) [1].

Đọc tiếp »

KIỂM SOÁT VIÊN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN LÀ TỔ CHỨC

LG. CAO BÁ KHOÁT – Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự

Vào ngày 01/7/2010, thời hạn chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước kết thúc, đương nhiên các công ty nhà nước đồng loạt chuyển thành công ty TNHH một thành viên là tổ chức. Khi đó nhà nước là một chủ sở hữu vô hình của các công ty TNHH một thành viên, còn tài sản của nhà nước lại được giao cho một số ít người quản lý trong bối cảnh pháp luật còn nhiều lỗ hổng để cho những người quản lý đó xâm hại đến tài sản của nhà nước.

Hiện nay, vấn đề quản trị công ty TNHH một thành viên là tổ chức chưa được thực sự quan tâm. Bởi vì, loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến so với công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Sau ngày 01/7/2010 (thời điểm cuối cùng để chuyển đổi các DNNN), nếu các DNNN không tiến hành cổ phần hoá hoặc không chuyển đổi thì đương nhiên các doanh nghiệp đó sẽ trở thành công ty TNHH một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, quản trị công ty TNHH một thành viên là tổ chức trở thành vấn đề bức thiết và gay gắt nhất, không tìm hiểu kỹ có thể sẽ dẫn đến những sai lầm về quản trị.

Kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức là một cá nhân do tổ chức là chủ sở hữu bổ nhiệm để kiểm soát các hoạt động của công ty nên vài trò của kiểm soát viên rất lớn. Ý nghĩa của việc quy định chức danh kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức vì chủ sở hữu là một thực thể pháp lý vô hình, không thể trực tiếp quản lý hay điều hành công ty nên phải có một người thay mặt chủ sở hữu kiểm soát các hoạt động của công ty cũng như giám sát những người quản lý, điều hành nhằm đảm bảo tài sản của chủ sở hữu không bị thất thoát.

Đọc tiếp »

NGHỊ ĐỊNH SỐ 20/2010/NĐ-CP NGÀY 8 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH PHÁP LỆNH SỬA ĐỔI ĐIỀU 10 CỦA PHÁP LỆNH DÂN SỐ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số ngày 27 tháng 12 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số

Điều 2. Những trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con

1. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên.

3. Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên.

4. Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi.

5. Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.

6. Cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh. Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện đang còn sống.

Đọc tiếp »

THÔNG TƯ SỐ 09/2010/TT-BGDĐT NGÀY 10 THÁNG 3 NĂM 2010 CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BAN HÀNH QUY CHẾ HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên
,

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chế Học viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hình thức vừa làm vừa học.

Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 4 năm 2010. Các quy định trước đây trái với quy định tại Thông tư này đều bị bãi bỏ.

Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Thủ trưởng đơn vị có liên quan thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc sở giáo dục và đào tạo, Giám đốc đại học, học viện, Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Trần Quang Quý

QUY CHẾ

HỌC VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC
(Ban hành kèm theo Thông tư số 09/2010/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 3 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Đọc tiếp »