BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – HIỆP ĐỊNH TRIPS, TRIPS CỘNG VÀ ACTA

TS. NGUYỄN THỊ HẢI VÂN -  Giảng viên khoa Luật Dân sự, Đại học Luật TP.HCM

Trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sau 10 năm miệt mài đàm phán và thuyết phục cũng như liên tục chấn chỉnh hệ thống pháp luật quốc gia là một thành công của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Nhưng đó chỉ là điểm khởi đầu, để thực sự hưởng lợi từ các quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế Việt Nam còn phải tiếp tục và luôn luôn thực hiện những cam kết của mình trong nhiều lĩnh vực. Trong đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một trong những cam kết quan trọng không thể xem nhẹ.

Trong quá trình chuẩn bị gia nhập chính thức vào WTO, Việt Nam đã có những điều chỉnh lập pháp quan trọng. Ngoài ra, để gia nhập WTO, Việt Nam còn phải tiến hành hàng loạt các thay đổi về chính sách và pháp luật để tuân thủ các nguyên tắc và quy định của tổ chức này. Năm năm sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã và vẫn đang tiếp tục củng cố hệ thống pháp luật để thực thi ngày càng tốt hơn.

Hiểu một cách đúng đắn về một hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh trong khuôn khổ những cam kết với tư cách thành viên của Hiệp định TRIPS (1) và thấy được những thách thức khi thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực này (2) giúp Việt Nam dễ dàng có những bước chuẩn bị tốt trước những đòi hỏi bảo hộ SHTT ngày càng cao hơn trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới (3).

1 – Hệ thống SHTT và ý nghĩa của việc trở thành thành viên Hiệp định TRIPS

1.1 Sự cần thiết phải có một hệ thống SHTT

Hệ thống SHTT được hiểu là tập hợp các quyền SHTT và các chính sách bảo hộ quyền SHTT. Hệ thống SHTT mang tính quốc gia vì nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội riêng biệt của từng quốc gia. Chính các điều kiện này bao gồm các chính sách, cơ sở hạ tầng và đặc biệt nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với một hệ thống SHTT mạnh. Bên cạnh đó, một chính sách tốt phải đưa ra được các tiêu chuẩn xác lập quyền của chủ sở hữu quyền. Nói cách khác, chính sách này phải xác định phạm vi được bảo hộ của các đối tượng của quyền SHTT. Sự giới hạn quyền SHTT hợp lý cho phép hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân bảo đảm công bằng xã hội. Muốn đạt được điều đó trong các chính sách quốc gia về SHTT không thể thiếu những chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Đọc tiếp »

CẢNH BÁO RỦI RO TRONG GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

HOÀNG QUỐC HÙNG – Phó Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp

Giao dịch bảo đảm là giao dịch dự phòng do các bên chủ thể thỏa thuận để bảo đảm lợi ích của bên có quyền bằng cách cho phép bên có quyền được xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để khấu trừ giá trị nghĩa vụ trong trường hợp nghĩa vụ đó bị vi phạm.

Trong 07  biện pháp bảo đảm (theo Đ 318 của Bộ Luật dân sự 2005) gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký quỹ, ký cược, bảo lãnh, tín chấp thì biện pháp thế chấp tài sản được tôn vinh là “nữ hoàng” của các biện pháp bảo đảm (BPBĐ). Khoản 1, Điều 432 BLDS 2005 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”. Thế chấp tài sản được lựa chọn làm BPBĐ của hầu hết các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong các quan hệ tín dụng. Nếu như trong BPBĐ cầm cố tài sản, bên có nghĩa vụ phải “giao tài sản” cho bên có quyền thì trong quan hệ thế chấp, bên bảo đảm chỉ “dùng tài sản để bảo đảm” mà “không chuyển giao tài sản đó” cho bên có quyền. Dùng tài sản để bảo đảm mà không phải chuyển giao mà lợi ích của các bên trong quan hệ vẫn đạt được là 1 giải pháp tuyệt vời hữu hiệu chỉ có ở biện pháp thế chấp tài sản.  Tài sản bảo đảm được coi là phao cứu sinh của hoạt động ngân hàng, bảo đảm ngân hàng có thể thu hồi ít nhất là vốn gốc khi rủi ro khách hàng không trả được nợ xảy ra. Phần lớn tài sản bảo đảm của ngân hàng là quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là nhà đất). Tuy nhiên, thực tế hoạt động ngân hàng cho thấy, có muôn ngàn lý do làm cho quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất, vốn là tài sản bảo đảm trở thành không bảo đảm, khiến khoản nợ xấu của ngân hàng tăng vọt trong thời gian gần đây. Để phòng ngừa và góp phần làm giảm bớt các rủi ro, nợ xấu của ngân hàng, tác giả tập trung trình bày 04 vấn đề cơ bản khi thẩm định hồ sơ pháp lý của giao dịch bảo đảm bằng biện pháp thế chấp tài sản.

Vấn đề thứ nhất: Thẩm định về nhân thân của người tham gia ký kết hợp đồng thế chấp tài sản.

Đọc tiếp »

MỘT VÀI TRAO ĐỔI XUNG QUANH BÀI VIẾT “TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG”

CHU HIỀN – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Trong bài viết “Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên có được phát biểu quan điểm giải quyết về nội dung vụ án hay không?”, tác giả Vũ Thắng có nêu hai quan điểm về giới hạn nội dung phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm, cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Theo quy định tại Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm. Do không quy định rõ như ở giai đoạn sơ thẩm là kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án nên tại phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án, tức là phát biểu cả về phần nội dung vụ án.

Tại bài viết của mình, tác giả Vũ Thắng đồng tình với quan điểm thứ nhất,  với lập luận: Mặc dù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự mà thôi.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, quan điểm thứ hai là có cơ sở. Nghĩa là, tại phiên toà phúc thẩm, kiểm sát viên không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án mà còn phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án, tức là phát biểu cả về phần nội dung vụ án, với những lý do sau:

Đọc tiếp »

TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, KIỂM SÁT VIÊN CÓ ĐƯỢC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM GIẢI QUYẾT VỀ NỘI DUNG VỤ ÁN HAY KHÔNG?

VŨ THẮNG – Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012.Kể từ khi có hiệu lực pháp luật, thực tế việc xét xử các loại vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự ở cấp phúc thẩmnảy sinh nhiều quan điểm chưa thống nhất liên quan đến giới hạn phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm.

Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, khoản 1 Điều 234 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm2011 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án”. Như vậy nội dung bài phát biểu của Kiểm sát viên chỉ tập trung vào việc tuân theo pháp luậttố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2011 quy định việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm như sau:“Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm”.

Với quy định như vậy, nội dung phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm chưa rõ ràng, cụ thểnhư tại phiên toà sơ thẩm. Điều này dẫn đến các quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm chỉ được phát biểu ý kiến về việc tuântheo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tác giả bài viết này đồng ý với quan điểm này, bởi lẽ: Mặcdù Điều 273a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 quy định: Kiểm sát viênphát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạnphúc thẩm, nhưng căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tốtụng dân sự năm 2011 thì: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật”. Điều này được hiểu là Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự.

Đọc tiếp »

NGHỊ ĐỊNH SỐ 38/2012/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 4 NĂM 2012 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật an toàn thực phẩm ngày 17 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Căn cứ Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa ngày 21 tháng 11 năm 2007;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm,

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm về:

1. Công bố hợp quy hoặc công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm.

2. Bảo đảm an toàn thực phẩm biến đổi gen.

3. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

4. Kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu, xuất khẩu.

5. Ghi nhãn thực phẩm.

6. Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm:

a) Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Bộ Y tế;

b) Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

c) Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Bộ Công Thương;

d) Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Ủy ban nhân dân các cấp;

đ) Phối hợp giữa các bộ quản lý ngành trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

7. Thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm.

Đọc tiếp »

BÀN THÊM VỀ LỢI ÍCH DOANH NGHIỆP THU ĐƯỢC TỪ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI CÔNG NGHỆ

Trade & EconomyNGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 9.2009 đã đăng tải bài viết “Một số bàn luận về lợi ích của doanh nghiệp từ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ” với nội dung đề cập tới trường hợp một số cơ quan, ban/ngành tỉnh B tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định bổ sung 5,5 tỷ đồng với tên gọi “giá trị tài sản của sáng chế” vào mục “chi phí khác” của một dự án đầu tư, khi doanh nghiệp này áp dụng công nghệ của mình nghiên cứu, mang lại hiệu quả hơn so với công nghệ trước đó.

Sau khi bài viết được đăng tải, đầu năm 2010, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh này đã tổ chức lấy lại ý kiến tham khảo của các ban/ngành và đã đề xuất UBND tỉnh B rút lại quyết định bổ sung 5,5 tỷ đồng cho doanh nghiệp T. Ngay sau khi văn bản mới được UBND tỉnh ban hành, trong công văn kiến nghị với các cơ quan chức năng, doanh nghiệp T đã khẳng định việc sử dụng công nghệ mới trong quá trình thi công là “không có góp vốn, không có chuyển giao công nghệ nên không có nội dung chi phí này là đúng”, nhưng doanh nghiệp T còn đang thắc mắc: “Vậy doanh nghiệp lấy tiền từ đâu để trả cho tác giả sáng chế?”. Thiết nghĩ, do đây là vấn đề tương đối mới mẻ với nhiều doanh nghiệp nên cần phải đưa ra bàn luận cho thấu đáo, làm cơ sở rút kinh nghiệm cho các địa phương khác, các công nghệ khác để giải quyết các trường hợp tương tự. Bài viết sau đây, tác giả sẽ bổ sung đôi điều về vấn đề đó.

Trước hết phải khẳng định rằng, công nghệ F, F1 (sau đây gọi chung là công nghệ F) về giải pháp ngăn mùi của hệ thống thoát nước đô thị của doanh nghiệp T là một công nghệ mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường. Trong thời gian qua, doanh nghiệp T cũng giành nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế về sáng tạo KH&CN, nhiều địa phương khác trong cả nước đã triển khai áp dụng công nghệ F. Doanh nghiệp T đã được Sở KH&CN tỉnh B cấp giấy chứng nhận là “doanh nghiệp KH&CN”. Tác giả của sáng chế là người thuộc doanh nghiệp T. Chủ sở hữu sáng chế là doanh nghiệp T.

Với công nghệ F, doanh nghiệp T được UBND tỉnh B giao làm chủ đầu tư và trực tiếp thi công công trình có sử dụng công nghệ F mà không phải thông qua phương thức đấu thầu theo Luật Đấu thầu và công trình được sử dụng hoàn toàn nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Đọc tiếp »

VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỊA PHƯƠNG

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu; VÕ NGỌC ANH – Sở KH&CN Bình Định; KHUẤT DUY VĨNH LONG – Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh; HÀ HUY BẮC – Sở KH&CN Vĩnh Phúc; LÊ VŨ TOÀN – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Trên thế giới, mô hình quỹ phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) đã được hình thành từ lâu: Quỹ khoa học quốc gia được thành lập ở Mỹ năm 1950, Thụy Sỹ năm 1952, các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ cũng thành lập quỹ này từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tại Việt Nam, các loại hình quỹ phát triển KH&CN đã được đề cập trong Luật KH&CN năm 2000, Trong đó việc thành lập Quỹ được hình thành ở cấp quốc gia; tỉnh/thành phố; bộ/ngành; tổ chức và cá nhân nhằm mục đích đa dạng hoá nguồn đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN. Bài viết dưới đây đánh giá sơ bộ về thực trạng hoạt động của các quỹ phát triển KH&CN do các tỉnh/thành phố thành lập, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ này.

Sau khi Luật KH&CN có hiệu lực, tính đến nay, cả nước đã hình thành được 36 tổ chức quỹ phát triển KH&CN. Trong đó, ở cấp quốc gia là Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia (NAFOSTED), ở địa phương có 16 quỹ, trường đại học có 1 quỹ, khối doanh nghiệp có 18 quỹ. Đối với 16 quỹ ở các tỉnh/thành phố (quỹ địa phương), đã có 11 quỹ đi vào hoạt động, đó là tại các tỉnh/thành phố: Hải Dương, Thanh Hóa, TP Hồ Chí Minh, Bình Định, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Quảng Trị, Bình Dương, Nghệ An, Thái Bình, Hòa Bình; 5 quỹ đã thành lập nhưng chưa hoạt động, ở các tỉnh: Đồng Nai, Bạc Liêu, Đà Nẵng, Bình Phước, Quảng Ngãi. Hầu hết các quỹ được thành lập và đi vào hoạt động trong vòng 1-3 năm trở lại đây. Quỹ hình thành đi vào hoạt động sớm nhất cả nước là Nghệ An (2004).

Các quỹ địa phương hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu, không vì mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và các ngân hàng. Các quỹ địa phương là các đơn vị trực thuộc UBND tỉnh/thành phố. Vốn được cấp khi thành lập ban đầu của các quỹ không lớn, cao nhất là Quỹ Phát triển KH&CN TP Hồ Chí Minh (50 tỷ đồng), còn lại từ trên 1 tỷ đến 10 tỷ đồng, được hình thành từ ngân sách sự nghiệp khoa học, bổ sung từ kinh phí thu hồi của các đề tài/dự án hàng năm, các khoản thu từ hoạt động của quỹ. Ngoài ra, quỹ có thể được huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách khác như: Các khoản đóng góp tự nguyện, tài trợ, hiến tặng của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước…

Đọc tiếp »

CÔNG VĂN SỐ 637/BXD-QLN NGÀY 24 THÁNG 04 NĂM 2012 CỦA BỘ XÂY DỰNG VỀ SỬ DỤNG CĂN HỘ CHUNG CƯ ĐỂ LÀM VĂN PHÒNG, CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH

Kính gửi:

Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 09/02/2012, Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có văn bản số 731/SXD-QLN&CS xin ý kiến về việc sử dụng nhà chung cư để làm văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh. Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

Theo quy định của Luật nhà ở thì nhà ở (bao gồm cả nhà chung cư) là công trình xây dựng với mục đích sử dụng để ở. Mặt khác, trường hợp sử dụng căn hộ nhà chung cư vào mục đích không phải để ở sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ công trình như: làm tăng dân số, lưu lượng người ra vào, làm tăng tải trọng công trình, mật độ xe ra vào tăng cao, nhu cầu diện tích để xe lớn, khó kiểm soát công tác phòng chống cháy nổ…, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của cư dân sống tại chung cư.

Bộ Xây dựng đề nghị Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố yêu cầu các cơ quan chức năng của thành phố thực hiện công tác quản lý sử dụng nhà chung cư đúng mục đích theo quy định của Luật nhà ở và triển khai thực hiện một số việc sau:

1/ Kiểm tra, rà soát, thống kê và phân loại về số lượng, hiện trạng sử dụng đối với căn hộ nhà chung cư hiện đang sử dụng vào mục đích không phải để ở.

2/ Đối với căn hộ nhà chung cư hiện đang sử dụng làm văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng vi phạm các điều cấm của pháp luật hiện hành thì cần có ngay phương án để chuyển văn phòng, cơ sở sản xuất kinh doanh đó ra khỏi căn hộ nhà chung cư.

3/ Trường hợp nhà chung cư có mục đích sử dụng hỗn hợp mà có thể tách riêng các văn phòng với khu nhà ở thì thực hiện việc quản lý các văn phòng như đối với các công trình kinh doanh, dịch vụ.

Đọc tiếp »

CÔNG VĂN SỐ 1418/TCT-TNCN NGÀY 25 THÁNG 04 NĂM 2012 CỦA TỔNG CỤC THUẾ, BỘ TÀI CHÍNH VỀ MIỄN THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI QUÀ TẶNG LÀ BẤT ĐỘNG SẢN

Kính gửi:

Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk

Trả lời công văn số 1112/CT-KTNB ngày 22/03/2012 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk về việc thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1994 thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất bao gồm cả đất có nhà và vật kiến trúc trên đó, khi chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Thuế suất thuế chuyển quyền sử dụng đất đối với đất ở, đất xây dựng công trình được quy định là 4%; đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản là 2%.

Từ ngày 01/01/2009 Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành, theo đó hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng quyền sử dụng đất nộp thuế TNCN thay cho Thuế chuyển quyền sử dụng đất. Để giảm bớt khó khăn cho người nộp thuế đối với các trường hợp nhà ở, đất ở do nhận chuyển nhượng của người khác qua nhiều lần, nhiều chủ nhưng chưa làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; sau khi báo cáo và được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 8/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế Thu nhập cá nhân. Tại điểm 2, Điều 8 Thông tư số 02/2010/TT-BTC qui định: “Đối với trường hợp người sử dụng đất do nhận chuyển nhượng trước ngày 01/01/2009 nay nộp hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ thu 01 lần thuế thu nhập cá nhân của lần chuyển nhượng cuối cùng, các lần chuyển nhượng trước đó không thực hiện truy thu thuế..”.

Đọc tiếp »

NGHỊ ĐỊNH SỐ V40/2012/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 05 NĂM 2012 VỀ NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH TIỀN; BẢO QUẢN, VẬN CHUYỂN TÀI SẢN QUÝ VÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC, TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010;

Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Chính phủ ban hành Nghị định về nghiệp vụ phát hành tiền; bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc in, đúc, bảo quản, vận chuyển, phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại (sau đây gọi tắt là tiền); bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài; chi phí cho các hoạt động nghiệp vụ phát hành tiền.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước).

2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

3. Cơ sở in, đúc tiền; Kho bạc Nhà nước; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Đọc tiếp »

THÔNG TƯ SỐ 09/2012/TT-BLĐTBXH NGÀY 26 THÁNG 04 NĂM 2012 CỦA BỘ LAO ĐỘNG–THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ HƯỚNG DẪN ĐIỀU CHỈNH LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TRỢ CẤP HÀNG THÁNG THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 35/2012/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 4 NĂM 2012 VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 31/2012/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 4 NĂM 2012 CỦA CHÍNH PHỦ

Căn cứ Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;

Căn cứ Nghị định số 35/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc (sau đây được viết là Nghị định số 35/2012/NĐ-CP);

Căn cứ Nghị định số 31/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu chung (sau đây được viết là Nghị định số 31/2012/NĐ-CP);

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội;

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư hướng dẫn điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng theo Nghị định số 35/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 và Nghị định số 31/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ,

Điều 1. Đối tượng áp dụng

1. Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người nghỉ hưu hưởng trợ cấp hàng tháng từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo quy định tại Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ); quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu trước ngày 01 tháng 5 năm 2012.

2. Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng trước ngày 01 tháng 5 năm 2012.

Đọc tiếp »

TRIỂN VỌNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA VIỆT NAM NĂM 2012 – DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI

NGÔ THỊ THU TRÀ & PHAN NGỌC THẮNG – Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế – xã hội có nhiều khó khăn, phức tạp do tác động bất lợi từ kinh tế thế giới và những hạn chế từ nội tại, trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ, ngành và các địa phương đều nỗ lực đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính bao gồm cả thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, tài chính công.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ, mặc dù đạt được một số kết quả, song, công tác cải cách vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều thủ tục hành chính còn phức tạp, gây phiền phức cho người dân và doanh nghiệp; bộ máy còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, chế độ trách nhiệm chưa rõ ràng; bất hợp lý và chậm được điều chỉnh, khắc phục cả ở Trung ương và địa phương (Thông báo số  27/TB-VPCP ngày 30/1/2012 v/v thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai công tác ngành Nội vụ 2012 và chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 – http://www.chinhphu.vn)  

Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo Đánh giá xếp hạng môi trường kinh doanh 2012 (Doing business 2012 – Doing Business in a more transparent World). Theo kết quả đánh giá tại Báo cáo này, vị trí xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đã bị tụt 8 bậc, từ vị trí 90 xuống vị trí 98 trên tổng số 183 quốc gia (nền kinh tế) được xếp hạng bởi Ngân hàng Thế giới. 

Bài viết này phân tích một số nguyên nhân làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam bị tụt hạng so với năm trước theo đánh giá của WB  và nêu ra một số khuyến nghị nhằm hướng tới cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam.

Mục tiêu và nội dung chính của Báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới                                               

Doing Business của Ngân hàng Thế giới là Báo cáo kết quả điều tra, khảo sát của một nhóm chuyên gia WB được thực hiện hàng năm về các quy định của các nước có tác dụng thúc đẩy hoặc kiềm chế hoạt động kinh doanh tại nước đó. Báo cáo đưa ra các chỉ tiêu định lượng nhằm đánh giá các vấn đề cụ thể được cho là quan trọng nhất trong việc hình thành và tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh của một nước trên cơ sở tính điểm và so sánh trong mối tương quan giữa 183 quốc gia (nền kinh tế) được khảo sát, từ Afghanistan đến Zimbabwe qua thời gian. Trên cơ sở đó, tổng hợp thành mức xếp hạng cho từng lĩnh vực riêng lẻ và mức xếp hạng tổng hợp cho từng nước.  Chỉ số chung được tổng hợp từ các chỉ số đánh giá riêng lẻ phản ánh các chính sách qui định về kinh doanh và vấn đề bảo hộ quyền sở hữu tài sản được so sánh 183 quốc gia qua thời gian, phản ánh cụ thể qua 10 lĩnh vực sau:

Đọc tiếp »

NHỮNG SAI LỆCH, KHIẾM KHUYẾT CỦA CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH VIỆT NAM

TRẦN XUÂN NAM – Phó Giám đốc Câu lạc bộ CFO Việt Nam

Từ năm 2001 đến cuối năm 2006 Bộ Tài Chính đã ban hành gần 30 Chuẩn Mực Kế Toán Việt Nam (VAS) và các thông tư hướng dẫn các chuẩn mực. Đó là một sự nỗ lực rất đáng được biểu dương của các nhà làm chế độ kế toán, Bộ Tài Chính. Các VAS về cơ bản giống như các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vì nó được dịch từ các IAS (việc nên làm) nhưng sau đó nó được sửa đổi, bổ sung, cắt bớt và kết quả là đôi khi nó làm mất đi tính nhất quán của toàn bộ hệ thống. Đặc biệt có một số hướng dẫn chuẩn mực cũng như các chế độ chế toán hiện hành còn có mâu thuẫn với một số VAS. Hơn thế nữa các họat động tập huấn, đào tạo các VAS mới còn nhiều hạn chế nên báo cáo tài chính của các công ty vẫn còn nhiều điều bất cập chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và các nhà quản lý. Trong phạm vi bài viết, tác giả xin trình bày một số sai lệch và khiếm khuyết lớn thường thấy trên các báo cáo tài chính của các công ty Việt Nam (do chế độ kế toán hoặc do thực tế) và cách khắc phục nó.

1.Tổng quan sự khác nhau của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam và Quốc tế.

Khác với VAS, IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải có trong các báo cáo tài chính nhưng họ không đưa ra những biểu mẫu báo cáo bắt buộc tất cả các công ty phải tuân theo vì họ hiểu các công ty có quy mô, đặc điểm ngành nghề kinh doanh rất khác nhau. Chế độ kế toán Việt Nam không những đưa ra một hệ thống tài khỏan kế toán thống nhất bắt buộc mà còn đưa ra các biểu mẫu báo cáo tài chính thống nhất bắt buộc cho tất cả các doanh nghiệp áp dụng (hầu hết các quốc gia trên thế giới không làm như vậy).

2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Lãi từ hoạt động kinh doanh không đúng. Lãi từ hoạt động kinh doanh (Operating Profit/ Income) của một công ty rất quan trọng, nó là nguồn lãi quan trọng nhất và ổn định nhất của một doanh nghiệp. Khác với các nguồn lãi từ các hoạt động tài chính hay các hoạt động khác về nguyên tắc thường không ổn định và khó có thể dự đoán. Chính vì vậy trong chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế lãi kinh doanh là các khoản lãi lỗ từ các họat động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, không bao gồm các khoản thu nhập và chi phí tài chính (chi phí lãi vay). Tuy nhiên theo VAS 21 “Trình bày các báo cáo tài chính” thì “Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh” bao gồm cả lợi nhuận và chi phí tài chính.

Để dễ hiểu hơn chúng ta hãy xem ví dụ sau. Công ty X trong năm 2008 có doanh thu bán hàng là 100 tỷ đồng, giá vốn hàng bán là 60 tỷ, chi phí bán hàng và chi phí quản lý chung tương ứng là 12 tỷ và 8 tỷ. Trong năm công ty có hoạt động bán cổ phiếu lãi 50 tỷ và chi phí lãi tiền vay là 10 tỷ. Với các thông tin trên, báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008 của công ty X được trình bày theo chuẩn mực (thông lệ) quốc tế và Việt Nam như sau.

Đọc tiếp »

ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM–CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

1. Tổng quan

1.1. Sự cần thiết của việc đăng ký quyền

Thông tin và bảo đảm thực hiện quyền. Đăng ký, theo nghĩa hẹp của từ ngữ, là việc ghi chép một sự việc vào một quyển sổ nhằm chính thức hoá sự việc ấy trong mối quan hệ đối với toàn xã hội. Cũng theo nghĩa ấy mà việc đăng ký một quyền nói chung, đăng ký quyền đối với bất động sản nói riêng được ghi nhận, và chế định đăng ký được xây dựng trong luật của các nước.

Điều kiện cần để một quyền chủ thể được tôn trọng và được bảo đảm thực thi bằng sức mạnh của công lực là nó phải được xã hội biết đến. Các quyền có thể rất đa dạng về chủng loại, tính chất, giá trị, thứ tự ưu tiên…; bởi vậy, việc quyền được nhận dạng đầy đủ thông qua sự mô tả theo một bộ tiêu chí nào đó sẽ có tác dụng làm rõ thông tin về sự hiện hữu của quyền, qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm thực hiện quyền trong quan hệ xã hội.

1.2. Xác định ý nghĩa của việc tổ chức đăng ký

Lý thuyết. Trong điều kiện chủ thể sử dụng dịch vụ đăng ký với mong muốn quyền của mình được thừa nhận và bảo vệ, thì hệ thống đăng ký tốt nhất phải bảo đảm được các tiêu chí sau đây.

Thứ nhất, nó cho phép nhận dạng tài sản một cách chính xác, cũng như làm rõ nội dung của quyền đối với tài sản đó. Sổ đăng ký có những mô tả bằng câu chữ và nếu cần, cả bằng bản vẽ cho phép phân biệt rạch ròi tài sản đăng ký cũng như quyền được đăng ký với bất kỳ tài sản nào, quyền nào khác.

Thứ hai, nó cho phép khẳng định sự hiện hữu không thể tranh cãi của quyền, đặc biệt về chủ thể và nội dung của quyền. Nói khác đi, việc đăng ký có tác dụng tạo ra chứng cứ chính thức và tuyệt đối về quyền, hay khác đi nữa, đăng ký có tác dụng tạo lập quyền. Tất nhiên, muốn đạt được điều này, thì việc đăng ký phải được tiến hành trên cơ sở kết quả thẩm định tích cực và đáng tin cậy được nhà chức trách có thẩm quyền thực hiện theo một trình tự chặt chẽ, cho phép tránh được rủi ro đăng ký nhầm một quyền không tồn tại hoặc đăng ký quyền cho một người không phải là chủ thể đích thực của quyền.

Thực tế. Mong muốn xây dựng hệ thống đăng ký hiệu quả nhất về phương diện bảo vệ quyền chủ thể và sự bình ổn, trật tự trong cuộc sống dân sự, nhưng không phải nhà chức trách nào cũng có đầy đủ điều kiện để đạt được mục tiêu đó, nhất là các điều kiện khách quan. Quá trình tìm kiếm giải pháp khả thi cho các vấn đề đặt ra đã dẫn đến sự hình thành và phát triển nhiều mô hình đa dạng. Tiêu biểu nhất là hai mô hình: đăng ký xác lập quyền và đăng ký để đối kháng quyền với người thứ ba.

Đọc tiếp »

BÀ RỊA – VŨNG TÀU: THÚC ĐẨY CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP

NGUYỄN VÂN ANH – Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu

Chương trình Khoa học và Công nghệ (KH&CN) hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT)” được UBND tỉnh ban hành là một bước cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CN tại địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực, tích cực đổi mới công nghệ, áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, phát triển sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường, góp phần phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh. Bài viết này đánh giá một cách khái quát về Chương trình với cả thành công và tồn tại, xin giới thiệu để các địa phương khác cùng tham khảo.

Mô hình tổ chức

Chương trình được Sở KH&CN BR-VT xây dựng và triển khai từ năm 2001, ban đầu được thực hiện dưới hình thức là một trong những nhiệm vụ KHCN hàng năm của Sở KHCN. Đến năm 2006, Chương trình trở thành một trong những nhiệm vụ KH&CN chung của các sở, ban/ngành trong toàn tỉnh.

Mục tiêu của Chương trình

Từng bước hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và từng bước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; giúp các doanh nghiệp ngày càng nhận thức đầy đủ hơn việc đầu tư và áp dụng tiến bộ KH&CN vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Nội dung Chương trình

Chương trình đã được triển khai với 5 nội dung: Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo các tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, HACCP, ISO 14000…; xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu; sản xuất sạch hơn, xử lý giảm thiểu ô nhiễm môi trường; đổi mới công nghệ, thiết bị và sản phẩm, tiết kiệm năng lượng, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất; ứng dụng công nghệ thông tin.

Đối tượng hỗ trợ trong thời gian đầu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, đến năm 2008 đã mở rộng ra các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, trang trại có tổ chức sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.

Mức kinh phí hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia: Xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hỗ trợ tối đa là 7 triệu đồng/nhãn hiệu đăng ký trong nước và không quá 20 triệu đồng/nhãn hiệu đăng ký ở nước ngoài; xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 được hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng. Các nội dung còn lại đều có mức hỗ trợ tối đa cho mỗi doanh nghiệp tham gia không quá 30% tổng kinh phí cho việc thực hiện đề án của doanh nghiệp và không quá 100 triệu đồng/đề án.

Những kết quả nổi bật

Đọc tiếp »

MÔ HÌNH TỔ CHỨC XÚC TIẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

THS. NGUYỄN VÂN ANH, Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu &  THS. LÊ VŨ TOÀN, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Theo đánh giá của một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ (CGCN) tại Việt Nam trong thời gian qua tuy đã thu được những thành tích đáng khích lệ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Việc tìm kiếm những mô hình xúc tiến CGCN phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động này, hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam là rất cần thiết. Bài viết giới thiệu mô hình tổ chức xúc tiến CGCN của Hàn Quốc và Trung Quốc, từ đó rút ra một số kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam.

Mô hình tổ chức xúc tiến CGCN của Hàn Quốc

Hoạt động xúc tiến CGCN đã trở nên mạnh mẽ ở Hàn Quốc với sự ra đời của Luật Xúc tiến CGCN vào năm 2000. Đạo luật này đã khuyến khích các trường đại học và các viện nghiên cứu công cộng thành lập các văn phòng CGCN (TLO) cùng với các tổ chức tương ứng của họ, đồng thời tập trung vào việc xúc tiến chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Trước khi có đạo luật này, Chính phủ Hàn Quốc đã tập trung vào sự phát triển của tri thức công nghệ bằng cách tăng cường đầu tư cho hoạt động R&D.

Hàn Quốc có nhiều tổ chức dịch vụ xúc tiến CGCN như trung tâm đổi mới công nghệ vùng, công viên công nghệ, các doanh nghiệp nhân rộng kết quả nghiên cứu, các trung tâm CGCN thuộc các trường đại học… Tiêu biểu phải kể đến là Trung tâm CGCN Hàn Quốc (Korea Technology Transfer Center – KTTC) – một tổ chức xúc tiến CGCN hàng đầu tại Hàn Quốc. KTTC được thành lập vào tháng 3.2000 dưới sự hỗ trợ của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOCIE) và các bộ liên quan. KTTC có nhiệm vụ tích hợp thương mại và công nghệ với việc thúc đẩy cạnh tranh trong các lĩnh vực CGCN, đánh giá và đầu tư. Qua đó, tạo ra một trung tâm về dòng chảy thông tin công nghệ qua văn phòng CGCN (TLO)/khu vực mua sắm công nghệ (Regional Technology Trade Centers – RTTCs) và ngân hàng công nghệ quốc gia. Ngoài ra, KTTC cũng tập trung cho việc chuyển giao và thương mại hoá công nghệ bằng cách thúc đẩy cơ chế tài chính, bao gồm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, phát triển kinh doanh và nghiên cứu, tập trung vào các công ty trong giai đoạn khởi nghiệp.

Chiến lược tiếp cận của KTTC là sử dụng đa dạng hoá phương pháp CGCN và thương mại hoá công nghệ từ chuyển giao quyền sử dụng, mua bán cổ phần công nghệ và trao đổi học thuật, cơ sở dữ liệu nghiên cứu. KTTC nâng cấp hạ tầng công nghệ và cải thiện khả năng cạnh tranh bằng cách thực hiện một cách có hệ thống và tích hợp chiến lược toàn cầu hoá công nghệ trên cơ sở sử dụng thế mạnh của công ty, trường đại học và chính phủ.

Đọc tiếp »

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 375 other followers