PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày 26/10/2004 Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, trước đó chúng ta đã tham gia Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, như vậy chúng ta đã rất nỗ lực trong công cuộc hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ. Từ 01.7.2006, Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, nhưng tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì chưa có điểm dừng, mà ngược lại hình như vẫn gia tăng.

Trong hội thảo “Bảo vệ bản quyền ở Việt Nam” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, các chuyên gia cũng đã đề cập đến quyền tác giả trong ngành công nghệ thông tin. Theo đánh giá, đây là một trong hai vấn đề vi phạm bản quyền tác giả phổ biến nhất hiện nay. Việt Nam là một trong ba nước (cùng Trung Quốc và Indonesia) có hành vi xâm phạm bản quyền phần mềm lớn nhất thế giới, theo số liệu thống kê của Liên minh Doanh nghiệp Phần mềm, tỷ lệ xâm phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam là 92%(1).

Ngay trong cuộc Hội thảo khoa học này, Quý vị có chắc chắn rằng máy tính xách tay của mình (mặc dù đã sử dụng phần mềm điều hành có bản quyền) nếu có sử dụng thêm Từ điển mtd thì Quý vị đã trả tiền bản quyền cho Công ty phần mềm Lạc Việt chưa? Theo Lạc Việt ước tính, hiện nay có khoảng 1,5 triệu máy tính dùng từ điển mtd không có bản quyền. Với giá của mỗi bản mtd là 10 USD, Lạc Việt đã bị thiệt hại khoảng 15 triệu USD! Tình trạng đó là nguyên nhân khiến thị trường phần mềm ở Việt Nam không thể phát triển được.(2)

Chúng ta không thể đổ lỗi do thu nhập thấp nên người sử dụng buộc phải vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hãy nhìn sang các quốc gia khác cùng châu lục, mức sống của người dân Ấn Độ đâu có cao, nhưng Ấn Độ đã trở thành một trong các cường quốc hàng đầu thế giới về công nghiệp phần mềm.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ đạt hiệu quả chưa cao, nhưng bài tham luận này chỉ tập trung phân tích ở góc độ phân cấp quản lý.

Đọc tiếp »

NGHỊ ĐỊNH SỐ 101/2009/NĐ-CP NGÀY 5 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ THÍ ĐIỂM THÀNH LẬP, TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2010;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục tiêu, yêu cầu thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước

1. Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Giữ vai trò bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân; ứng dụng công nghệ cao; tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế.

3. Thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác.

4. Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn.

5. Tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về:

1. Thành lập tập đoàn kinh tế nhà nước;

2. Tổ chức, hoạt động, quản lý, điều hành trong tập đoàn kinh tế nhà nước;

Đọc tiếp »

RỦI RO CỦA HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT NHÀ ĐẤT

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp

Những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất thường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Khi nào lập hợp đồng ủy quyền?

Vì nhiều lý do, thông thường là bên mua nhà chưa đủ điều kiện được sở hữu nhà tại Việt Nam hoặc ngôi nhà chưa đủ điều kiện để bán theo điều 91 Luật Nhà ở 2005 (phải có sổ hồng/sổ đỏ và sắp tới đây là sổ hồng mới) hoặc để trốn thuế, nhu cầu mua bán “vượt qua pháp luật” đã thôi thúc các bên tạo ra những giao dịch đường vòng mà phổ biến nhất là lập hợp đồng ủy quyền để che giấu giao dịch mua bán ngôi nhà hoặc khu đất (sau đây gọi chung là bất động sản). Cụ thể, các bên sẽ giao kết hai hợp đồng: hợp đồng mua bán bất động sản (trong một số trường hợp đặc thù là hợp đồng vay) và hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng mua bán ghi nhận ý chí đích thực của các bên trong giao dịch mua bán như đặc điểm bất động sản, giá bán, đặt cọc, thanh toán…

Tuy nhiên, khác với giao dịch mua bán bất động sản theo pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán này không được công chứng và việc chuyển nhượng không được đăng ký vì những lý do như đã nêu trên.

Để hợp pháp hóa việc chuyển giao bất động sản, các bên lập song song với hợp đồng mua bán một hợp đồng ủy quyền trong đó, bên bán giữ vai bên ủy quyền, ủy quyền cho bên mua – giữ vai trò bên được ủy quyền – toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bất động sản. Hợp đồng ủy quyền này sẽ giúp các bên chuyển giao “quyền sở hữu” từ bên bán (bên ủy quyền) sang bên mua (bên được ủy quyền) vì bằng hợp đồng ủy quyền bên được ủy quyền đã hưởng mọi quyền của một chủ sở hữu tài sản theo pháp luật Việt Nam (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản). Để cho chắc chắn việc ghi nhận “chuyển quyền sở hữu” này, các bên thực hiện công chứng hợp đồng ủy quyền tại phòng công chứng hoặc chứng thực tại ủy ban nhân dân xã, phường.

Đọc tiếp »

MỘT SỐ QUAN NIỆM CỔ ĐIỂN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ

TRẦN HỮU QUANG

Trong lịch sử sinh thành của khái niệm "xã hội dân sự" nơi các nhà tư tưởng cổ điển Tây phương, người ta có thể nhận thấy rằng diễn trình biến chuyển của khái niệm này thực ra biểu hiện những sự thay đổi trong các quan điểm lý thuyết về các mối quan hệ giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội.

Quá trình biến chuyển này xét về đại thể đã trải qua bốn quan niệm khác nhau: từ (1) quan niệm đồng hóa xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia qua Thomas Hobbes, John Locke và Jean-Jacques Rousseau vào các thế kỷ XVI-XVIII, (2) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị trường với Bernard Mandeville, Adam Ferguson và Adam Smith vào các thế kỷ XVII-XIX, (3) quan niệm xã hội dân sự tách khỏi nhà nước với Immanuel Kant, Benjamin Constant vào các thế kỷ XVIII-XIX, đến (4) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị dân hay xã hội tư sản với Georg Hegel, Karl Marx, Friedrich Engels và Antonio Gramsci vào các thế kỷ XIX-XX.

Trong tiếng Việt, các cụm từ "xã hội dân sự" và "xã hội công dân" thường được dùng để biểu thị khái niệm civil society trong tiếng Anh, société civile trong tiếng Pháp, hay bürgerliche Gesellschaft trong tiếng Đức.

Thực ra, tính từ civil (dân sự, hay dân chính, hay thuộc về lĩnh vực công dân) có thể mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo văn cảnh sử dụng. Nó có thể được hiểu là đối lập với cái gì thuộc về tôn giáo (religious), đối lập với lĩnh vực quân sự(military), hay trong luật học là đối lập với hình sự (penal) haythương mại (commercial), trong chiến tranh thì được hiểu lànội chiến (civil war) đối lập với chiến tranh với ngoại bang, hay còn có thể hiểu theo nghĩa là văn minh, lịch sự (cùng gốc với chữ civilized) đối lập với cái gì hoang dã, thô lỗ, và cuối cùng cũng có nghĩa là lĩnh vực dân sự đối lập với lĩnh vực chính trị(political).

Đọc tiếp »

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – TỪ KINH NGHIỆM CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN [1]

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Với tư cách là một trong ba trụ cột của thương mại quốc tế hiện đại, Sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nhất là từ khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Vấn đề bảo hộ SHTT đang đặt ra ngày càng gay gắt và cấp bách. Nhưng Việt Nam hiện nay vẫn bị đánh giá là quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao, là quốc gia đứng đầu thế giới về tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm (tới 92%).

Có thể điểm qua sự vi phạm trong lĩnh vực quyền tác giả, ví dụ cuốn sách “Thế giới phẳng” do Nhà xuất bản Trẻ phát hành vừa ra đời ít lâu, ngay lập tức trên thị trường đã xuất hiện sách lậu. Trước đó, những bộ sách như: “Hạt giống tâm hồn”, “Cẩm nang chăm sóc bà mẹ và em bé”, “Hồi ký về những cô gái điếm buồn của tôi”, “Phong thủy toàn tập”… do First News phát hành; “Cha giàu, cha nghèo”, “Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi” … do Nhà xuất bản Trẻ phát hành cũng bị in lậu và đã làm cho các Nhà xuất bản điêu đứng. Việc in lậu sách dường như càng lúc càng khó kiểm soát. Trường hợp sinh viên Nguyễn Trung Kiên đạo bức ảnh “Nụ hôn của gió” của tác giả Trần Thế Long chưa nguôi, đã đến bức “Hà Nội – cái nhìn hôm nay” của Vũ Đức Toàn lấy tới 99% “cảm hứng” từ bức “Domingo de Delf” của danh họa Argentina Torres Aguero.

Tiếp theo là sự vi phạm trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp cũng nghiêm trọng không kém, các cơ quan hữu quan nhận định: “Tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn mác vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đang trở thành vấn đề bức xúc đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà sản xuất kinh doanh. Mỗi năm, Cục quản lý thị trường phát hiện và xử lý khoảng 5.000 vụ sản xuất và tiêu thụ hàng giả, trong đó tình trạng mượn nhãn hiệu có tiếng chiếm phần nhiều”. [2]

Trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, sự non kém của Tòa sơ thẩm Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong khi xét xử vụ án ông Nguyễn Quảng Tuân kiện ông Đào Thái Tôn vi phạm quyền tác giả đã khiến dư luận không khỏi băn khoăn, báo chí đã tốn nhiều giấy mực, nhưng rất may ngày 14.6.2007 Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao đã ra phán quyết đúng pháp luật, hợp lòng người.

Một câu hỏi được đặt ra: tại sao pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có những bước tiến nhất định, đạt yêu cầu của Tổ chức Thương mại thế giới mà tình trạng vi phạm pháp luật về SHTT của công chúng và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức độ cao? Một trong những giả thuyết để trả lời cho câu hỏi trên là: việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam chưa được coi trọng đúng mức, yêu cầu đào tạo nhân lực SHTT của Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và cấp bách, nhưng thực tế việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT như một chuyên ngành trong các trường đại học, cao đẳng lại chưa được triển khai thực hiện, hoặc thực hiện còn quá chậm. [3] Đọc tiếp »

VIỄN CẢNH VIỆN KIỂM SÁT VIỆT NAM

BÙI NGỌC SƠN – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở Việt Nam, từ khi chế độ XHCN được xác lập chính thức, Viện kiểm sát mới ra đời.

1. Kiểm sát chung thuộc bản chất của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát là một thiết chế đặc thù của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở Việt Nam, từ khi chế độ XHCN được xác lập chính thức, Viện kiểm sát mới ra đời. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 không phải là Hiến pháp XHCN nên không có thiết chế Viện kiểm sát. Viện kiểm sát ở Việt Nam chính thức được xác lập trong bản Hiến pháp năm 1959 và được duy trì trong các Hiến pháp tiếp theo (1980,1992), và có sự điều chỉnh về chức năng.

Vấn đề đặt ra là, tại sao trong Nhà nước XHCN lại tồn tại thiết chế Viện kiểm sát? Ngày nay, người ta giải thích sự hiện diện của Viện kiểm sát gắn liền với hai nguyên tắc quan trọng trong việc tổ chức và vận hành quyền lực ở các Nhà nước XHCN: tập quyền XHCN và pháp chế XHCN.

Nguyên tắc tập quyền XHCN được C. Mác chỉ ra đầu tiên trên cơ sở nghiên cứu Công xã Paris và sau đó, được Lênin hoàn thiện trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (1). Cốt lõi của nguyên tắc này là quyền lực nhà nước được tổ chức tập trung vào cơ quan đại diện tối cao của nhân dân (được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước). Sự tập trung quyền lực về thiết chế đại diện này là điểm chính yếu bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước: quyền lực có một điểm hội tụ (không phải phân tán như trong chế độ phân quyền), có sự trật tự trong hệ cấp quyền lực (không phải là các ngành quyền lực bình đẳng nhau như trong chế độ phân quyền). Sự hội tụ và sự trật tự của quyền lực sẽ làm cho quyền lực có một điểm thống nhất và không có sự kìm chế, đối trọng lẫn nhau, dẫn đến triệt tiêu nhau của các định chế quyền lực.

Đọc tiếp »

BẢO VỆ CA SĨ HAY NHÀ ĐẦU TƯ?

LS. LÊ HOÀI DƯƠNG – Văn phòng Luật sư Lê & Lê

Ở các nước, việc khai thác qua mạng điện thoại di động nhạc chuông/nhạc chờ, hình ảnh ca sĩ… đang mang lại những khoản tiền rất lớn đồng thời những tranh chấp giữa ca sĩ với các công ty sản xuất băng đĩa cũng diễn ra thường xuyên. Ở Việt Nam rồi cũng sẽ như vậy, nhất là khi cả luật pháp lẫn kinh nghiệm thực tế của chúng ta trong lĩnh vực phức tạp này còn nhiều hạn chế.

Theo báo điện tử Pháp luật TPHCM, mới đây, ca sĩ Mỹ Tâm đã yêu cầu nhiều công ty viễn thông và hàng chục mạng nhạc số không được kinh doanh các bản nhạc chuông, nhạc chờ có sử dụng các bài hát do ca sĩ thể hiện hoặc phải trả ca sĩ tiền về quyền liên quan.

Về yêu cầu này, một số công ty cho rằng họ không phải trả tiền cho người biểu diễn mà chỉ trả cho hãng sản xuất băng đĩa và họ đã trả qua Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV).

Mỹ Tâm khẳng định chưa bao giờ ký hợp đồng chuyển giao quyền của người biểu diễn cho bất cứ hãng băng đĩa nào. Vì vậy, việc một số hãng băng đĩa nói rằng họ có quyền sở hữu các cuộc biểu diễn của ca sĩ là sai pháp luật.

Các hãng băng đĩa liên quan trong vụ việc này và RIAV lại cho rằng, căn cứ vào điều 29.1 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT), toàn bộ các bản ghi âm/ghi hình này thuộc quyền sở hữu của các nhà sản xuất, còn Mỹ Tâm chỉ có các quyền nhân thân, vì các bản ghi âm/ghi hình đều do họ đầu tư, ca sĩ chỉ biểu diễn để ghi âm/ghi hình và đã nhận đủ tiền thù lao.

Ở đây sẽ không bàn đến vấn đề ai đúng ai sai, mà chỉ xin nêu vài ý kiến về một quy định pháp lý quan trọng trong các vụ tranh chấp kiểu này – điều 29.1 Luật SHTT.

Đọc tiếp »

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều đó cũng có nghĩa khung pháp lý về sở hữu trí tuệ (SHTT) của chúng ta đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu mà tổ chức này đề ra. Pháp luật về SHTT của Việt Nam đã có những bước tiến khá mạnh như vậy thì việc đào tạo nhân lực về SHTT của Việt Nam cần được coi trọng và có biện pháp thúc đẩy đúng mức.

Tình hình đào tạo nhân lực về SHTT trên thế giới

Ở các nước phát triển, việc đào tạo nhân lực về SHTT được thực hiện với hệ thống đồng bộ, nhiều cấp độ và hình thức đào tạo khác nhau. Theo nhu cầu của từng quốc gia, phụ thuộc vào từng cơ sở, việc đào tạo nhân lực về SHTT có thể chỉ dừng ở mức độ là một môn học, hoặc có thể ở các mức độ cao hơn như đào tạo chuyên ngành đại học và sau đại học. Hầu hết các trường đại học của các nước phát triển đều có môn học SHTT trong chương trình một cách độc lập hoặc lồng ghép với các môn học chuyên ngành khác.

Trên thế giới, những cơ sở đào tạo về SHTT có uy tín và được biết đến rộng rãi là: Viện SHTT của Nga, Viện Max Planck của Đức, Đại học Zurich của Thụy Sỹ, Viện SHTT thuộc Đại học Queen Mary London của Anh, Đại học George Washington của Hoa Kỳ, Khoa SHTT thuộc Đại học Công nghệ Osaka của Nhật Bản… Chỉ tính riêng trong chương trình đào tạo cử nhân Luật của Đại học Comenius (Slovakia) đã có tới 3 môn học bắt buộc liên quan đến SHTT, đó là Quyền tác giả (với 2 tín chỉ), Luật sáng chế (với 2 tín chỉ) và Sở hữu công nghiệp (với 3 tín chỉ); cao hơn, Trường còn đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ về SHTT. Một số trường đại học thuộc các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo, Malaixia… cũng đưa SHTT vào trong chương trình đào tạo đại học nói chung và đã đào tạo SHTT như một chuyên ngành độc lập.

Đọc tiếp »

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

THS. LÊ MINH HÙNG – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây rất nhiều tranh luận giữa các chuyên gia pháp luật thừa kế, khi góp ý cho Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS 2005). Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để, nên vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung không trùng với thời điểm mở thừa kế (1).

Hệ quả là, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung không thể yêu cầu chia di sản do người chết trước để lại, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc của người vợ hay chồng đã chết trước không được yêu cầu chia thừa kế bắt buộc của người vợ hoặc chồng đã chết và nếu ngoài di chúc chung, một bên vợ, chồng chết trước còn để lại nhiều di chúc khác nhau thì vấn đề xác định hiệu lực của các di chúc sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Chúng tôi xin được tập trung làm rõ thêm những bất cập trong quy định của BLDS 2005 về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợC, chồng và đưa ra một số kiến nghị cụ thể.

1. Những bất cập của quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

Điều 668 BLDS 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Giải pháp này đã đơn giản hoá việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của BLDS 1995 (2).

Mặc dù vậy, việc xác định di chúc chung của vợ chồng phát sinh tại một thời điểm người sau cùng chết lại phát sinh những vấn đề phức tạp khác sau đây:

Thứ nhất: việc phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước, sẽ gây khó khăn cho các bên liên quan và cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đọc tiếp »

NHIỀU SAI SÓT TRONG VIỆC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở CƠ SỞ

NGUYỄN THANH XUÂN

Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn của công dân hiện nay được thực hiện theo Nghị định 158 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo đó, UBND cấp xã là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn cho công dân trong nước. Tuy nhiên, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch cho thấy, vẫn còn nhiều sai sót trong quá trình giải quyết đăng ký kết hôn cho người dân, dẫn đến nhiều hệ lụy pháp lý phát sinh sau này.

Điều 18 Nghị định 158 quy định, khi đến đăng ký kết hôn tại UBND cấp xã- nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thì hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai theo mẫu quy định và xuất trình chứng minh nhân dân. Trong trường hợp, một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó. Quy định như vậy, nhưng qua kiểm tra, có nhiều hồ sơ một trong các bên nam, nữ không tiến hành xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định, hoc có xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng đã quá hạn 6 tháng mà UBND cấp xã vẫn giải quyết cho đăng ký kết hôn. Lẽ ra, trong trường hợp này phải yêu cầu xác nhận lại tình trạng hôn nhân, nhưng cán bộ hộ tịch cơ sở vẫn giải quyết cho đương sự đăng ký kết hôn là không đúng luật. Ngược lại, chỉ yêu cầu các bên nam, nữ xuất trình chứng minh nhân dân để đối chiếu với tờ khai đăng ký kết hôn theo thủ tục, nhưng nhiều cán bộ hộ tịch vẫn yêu cầu người dân phải photo nộp cả chứng minh nhân dân, gây phiền phức cho người dân.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn, nhiều UBND cấp xã giải quyết chưa đúng quy định. Theo luật định, để UBND cấp xã giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn cho người dân là 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ, thủ tục hợp lệ; nếu xác minh các vấn đề nào khác thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 5 ngày. Nhưng thực tế vẫn có nhiều hồ sơ gần 1 tháng vẫn chưa giải quyết, gây nhiều phiền hà cho người dân.

Đọc tiếp »

VỀ CÁC THUẬT NGỮ PHÁT MINH, PHÁT HIỆN, SÁNG CHẾ

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chúng ta thường gặp những cách viết khác nhau về các khái niệm phát minh, phát hiện, sáng chế. Chẳng hạn: “Mỗi năm trôi qua, giới khoa học trên thế giới đều bội thu với những phát minh độc đáo, mang lại tiện ích thực sự cho cuộc sống con người, ví dụ như bàn chải đánh răng biết hát, máy giặt truyền động bằng xe đạp…” [1]. Ngay một thuật ngữ invention dịch ra tiếng Việt cũng không nhất quán, khi thì phát minh, khi thì sáng chế. Hầu hết các từ điển Anh – Việt đều dịch invention theo cả hai nghĩa “phát minh và sáng chế”, thậm chí có người còn dịch cả patent và license là phát minh hoặc bằng phát minh (!).

Vậy nên hiểu và viết thế nào để nhất quán về bản chất khoa học và phù hợp với những quy định về bảo hộ pháp luật đối với các đối tượng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam?

Việc hiểu đúng các thuật ngữ phát minh, phát hiện và sáng chế không những có tác dụng trong việc phân loại các sản phẩm của nghiên cứu, mà còn có ý nghĩa trong việc xác định giá trị thương mại, giải quyết hợp lý khi có tranh chấp xảy ra.

Khái niệm phát minh, phát hiện và sáng chế

Phát minh (tiếng Anh là Discovery, tiếng Pháp là Découverte, tiếng Nga là Otkrưtije)

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Phát minh: Sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Phát minh thường gắn liền với những nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện thực”[2]

Đọc tiếp »

VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI MỸ TRONG QUẢN LÝ KHỦNG HOẢNG

THS. NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC – Chi nhánh BHTGVN khu vực Hà Nội

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ Mỹ đã nhanh chóng lan ra khắp các châu lục và trở thành mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ các nước, đặc biệt là Mỹ, nơi đang phải gánh chịu cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ Đại suy thoái năm 1930. Sát cánh cùng Bộ Tài chính và Cục Dự trữ liên bang, Bảo hiểm tiền gửi Mỹ đã thực hiện hàng loạt các biện pháp để củng cố thị trường và bảo vệ người gửi tiền nhằm đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính nước này.

Bảo hiểm tiền gửi Mỹ

Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) là cơ quan độc lập với Chính phủ liên bang, được thành lập vào năm 1933 để đối phó với hàng ngàn cuộc đổ vỡ ngân hàng xảy ra vào những năm 1920 và đầu thập kỷ 1930. Kể từ khi FDIC được thành lập đến nay, FDIC đã chi trả toàn bộ tiền gửi được bảo hiểm mỗi khi có đổ vỡ ngân hàng.

Nhiệm vụ chính của FDIC là bảo vệ và củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống tài chính Mỹ thông qua: i) bảo hiểm tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm; ii) xác định, giám sát và quản lý rủi ro cho các quỹ bảo hiểm tiền gửi; và iii) hạn chế ảnh hưởng của đổ vỡ ngân hàng hoặc tổ chức tiết kiệm đối với nền kinh tế và hệ thống tài chính.

Nguồn vốn của FDIC bao gồm các khoản phí bảo hiểm tiền gửi mà các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đóng góp và các khoản thu nhập từ đầu tư trái phiếu Chính phủ Mỹ. Với tổng quỹ bảo hiểm hơn 45 tỷ USD, FDIC bảo hiểm hơn 5.000 tỷ USD tiền gửi tại các tổ chức tham gia bảo hiểm. Hiện nay, FDIC cũng trực tiếp kiểm tra và giám sát khoảng 5.160 ngân hàng và ngân hàng tiết kiệm (1), chiếm hơn một nửa các tổ chức trong hệ thống ngân hàng.

Đọc tiếp »

CHẤT VẤN TẠI QUỐC HỘI VÀ THỦ TỤC TIẾN HÀNH

NGUYỄN LÊ

Chất vấn (interpellation), theo định nghĩa của từ điển Webster’s 1913 Dictionary là yêu cầu quan chức giải thích hoạt động, hành động của mình; là những câu hỏi buộc phải trả lời. Còn từ điển mạng (WordNet Dictionary) giải thích đó là quy trình trong nghị viện nhiều nước nhằm yêu cầu Chính phủ giải thích một động thái hoặc chính sách của mình. Đó là yêu cầu bằng văn bản của cả Viện hoặc một nhóm nghị sỹ đối với Chính phủ hoặc Bộ trưởng giải trình về một vấn đề chính trị lớn, hoặc đường lối chính trị chung của Chính phủ. Qui chế của Hạ viện Italy định nghĩa chất vấn như một yêu cầu “dưới hình thức văn bản lên Chính phủ về mô típ hoạt động của mình và dự định tiếp theo của Chính phủ đối với những phương diện nhất định trong hoạt động của Chính phủ”.

Nói cách khác, nhìn chung có thể coi chất vấn là yêu cầu của nghị sỹ đối với Thủ tướng, hay các thành viên của Chính phủ ra trước phiên họp toàn viện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia, hay một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia.

1. Chất vấn có khác với hỏi đáp?

Cần phân biệt chất vấn với hỏi đáp. Thông thường, hình thức chất vấn được áp dụng ở các nước với chính thể đại nghị (Tây Ban Nha, Italy, Thuỵ Điển, Nhật, Na Uy…). Nhưng hình thức này lại không được biết đến ở Anh, mà thay vào đó là hỏi – đáp (question time) đóng vai trò rất lớn, trong khi như Pháp, hình thức hỏi đáp này không có vai trò như vậy. Với hình thức hỏi-đáp, các nghị sỹ hỏi chính phủ về mọi vấn đề trong một phiên họp. Mục đích của loại chất vấn này là để kiểm tra xem vị bộ trưởng có nắm chắc công việc không, hoặc để cảnh báo về những vấn đề đang phát sinh trong cuộc sống. Câu hỏi chỉ yêu cầu cung cấp thông tin về một sự việc cụ thể nào đó và không được bao hàm sự buộc tội. Hỏi – đáp cũng khác với chất vấn ở chỗ hình thức này không đi đến một cuộc biểu quyết thoả mãn hay không thoả mãn về trả lời của Chính phủ. Các câu hỏi và trả lời có thể bằng miệng hoặc viết. Nói chung, các nghị sỹ thường ưa thích hỏi-đáp trực tiếp bằng miệng, còn các bộ trưởng thích trả lời bằng văn bản. Ở Hạ viện Anh, vào năm 2004, số lượng các câu trả lời trực tiếp chỉ bằng một nửa so với năm 1964. Một trong những nguyên nhân chính là Chủ tọa ngày càng ít cho phép các nghị sỹ đối lập nêu các câu hỏi phụ, và người ta cho rằng, hỏi-đáp đã trở thành nơi đấu khẩu giữa các chính đảng lớn, chứ không còn là phiên họp giành cho phe đối lập như trước đây.

Đọc tiếp »

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT: NHẬN THỨC LUẬT VÊNH NHAU, DÂN LÃNH ĐỦ

HOÀNG LAM

Quy định đã hết hiệu lực nhưng cơ quan thi hành án vẫn vịn vào đó để ách các giao dịch hợp pháp.

Báo Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh nhiều trường hợp người mua nhà gặp rắc rối bởi các khoản nợ của chủ cũ. Mua nhà có chủ quyền hợp lệ, đi công chứng hợp đồng hẳn hòi, thậm chí có trường hợp đã đăng bộ xong nhưng người mua vẫn không thể thực hiện quyền sở hữu nhà.

Ai bảo mua nhà của người mắc nợ!

Như bà P. (quận 6, TP.HCM) bị cơ quan thi hành án dọa kê biên căn nhà mà bà đã mua để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của chủ cũ vì chủ cũ mắc nợ người khác hơn 130 triệu đồng. Hay ông S. (thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) cũng mắc kẹt vì chủ cũ mắc nợ người khác hơn 100 triệu đồng. Căn nhà mà chủ cũ đã bán cho ông cần phải kê biên để thi hành án.

Cơ quan thi hành án dựa vào Thông tư liên tịch số 12 ngày 26-2-2001 của Bộ Tư pháp và VKSND tối cao để lý giải quyền kê biên căn nhà của chủ cũ, ách lại giao dịch mua bán nhà hợp pháp đã thực hiện xong của người dân. Điểm a khoản 1 mục IV thông tư này quy định: “Đối với các trường hợp sau khi có bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án đã chuyển nhượng các tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì chấp hành viên có quyền kê biên tài sản đó và có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ giao dịch đó. Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án hủy bỏ giao dịch đó”.

Căn cứ vào quy định này, cơ quan thi hành án cho rằng người mua có thể khởi kiện chủ cũ ra tòa về hợp đồng mua bán nhà đã ký kết.

Đọc tiếp »

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: CHIẾC MERCEDES BỊ LẤY CẮP

HOÀNG YẾN

Xe bị trộm để “luộc” đồ, đơn vị bảo hiểm từ chối chi trả vì cho rằng không phải trường hợp bị mất toàn bộ do cướp có vũ trang…

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM sắp xử vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty TNHH Thương mại dịch vụ Thi Quan và Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh.

Xe bị “luộc” đồ

Theo đơn khởi kiện của Thi Quan gửi TAND TP.HCM hồi tháng 3, đầu năm 2008, Thi Quan có mua bảo hiểm của Bảo Minh cho chiếc ôtô Mercedes năm chỗ của công ty trong thời gian một năm và đã đóng đủ tiền bảo hiểm gần 15 triệu đồng.

Tối 11-7-2008, giám đốc Thi Quan đến một nhà hàng trên đường Tân Phước, phường 6 (quận 10) ăn uống cùng bạn bè. Một lúc sau ông này được tài xế báo cho biết là chiếc xe đã bị mất cắp. Theo lời tài xế, sau khi giám đốc Thi Quan vào nhà hàng, tài xế cho xe cặp sát lề đường trước nhà hàng, xuống xe khóa cửa rồi đi bộ ra nơi khác ăn hủ tiếu, lúc về thì thấy xe đã biến mất.

Công an phường 6 đến lập biên bản việc mất cắp xe, có nhân viên bảo vệ nhà hàng xác nhận trước đó có nhìn thấy chiếc xe trên. Hôm sau, Công an huyện Đức Hòa (Long An) phát hiện ra chiếc Mercedes này nằm trơ trọi giữa một cánh đồng mía nhưng đã bị cậy phá lấy cắp hàng loạt phụ tùng như đèn pha, đèn xi nhan, huy hiệu, kính chiếu hậu, đèn sau, vỏ lốp, đồ nghề mở vỏ, nắp nhớt xăng…

Một tuần sau, Công an quận 10 đã lập biên bản trao trả xe cho Thi Quan. Sau đó, Thi Quan yêu cầu Bảo Minh chi trả bảo hiểm nhưng đơn vị bảo hiểm cho rằng trường hợp này không thuộc phạm vi bảo hiểm nên từ chối. Không đồng ý, Thi Quan đã khởi kiện yêu cầu Bảo Minh phải thanh toán khoảng 174 triệu đồng, bao gồm chi phí giám định thiệt hại, chi phí thay phụ tùng bị mất, phí lưu bãi, chi phí kéo xe từ Long An về Công an quận 10…

Đọc tiếp »

ĐI TÌM CĂN NGUYÊN BỆNH NHŨNG NHIỄU Ở GIỚI CÔNG CHỨC: CÔNG CHỨC “TÚNG” NÊN PHẢI “TÍNH”

PGS.TS. NGUYỄN THU LINH – Phó Viện trưởng Viện những Vấn đề phát triển

Với mức lương trung bình 2-3 triệu đồng trong thời buổi hiện nay, công chức, đặc biệt ở các thành phố lớn không thể nuôi nổi gia đình hết tháng. Túng nên họ phải "tính". 

Hành chính khác chính trị

Đội ngũ công chức nước ta vốn được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau (một số được thuyên chuyển từ tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp), chức năng nhiệm vụ chưa rõ ràng – các vị trí chưa có bản mô tả công việc khiến việc tuyển dụng, giao việc, đánh giá để bổ nhiệm và đào tạo thiếu căn cứ… nên hiệu quả công việc thấp.

Dòng cán bộ đoàn thể gia nhập vào đội ngũ công chức thường được chuyển ngang, chuyển thẳng, bổ sung vào đội ngũ công chức dựa trên mức lương Nhà nước đã bao cấp và thường giữ chức vụ quản lý. Đây là nguyên nhân quan trọng khiến hành chính những năm gần đây có nhiều hoạt động mang tính phong trào, " lúc phồng, lúc dẹt".

Các số liệu, thống kê, tài liệu chưa được quản lý tốt. Điều này cũng góp phần khiến dòng chảy công việc trong nội bộ cơ quan, giữa các cơ quan hành chính- vốn đặc biệt quan trọng trong quản lý đất đai và thuế.. có lúc, có việc bị ngưng trệ.

Sự thăng tiến trên con đường chức nghiệp công chức còn có khoảng trống khiến cho tính khoa học, chuyên sâu của đội ngũ công chức bị hạn chế. Đó là sự phát triển theo hướng trở thành công chức hoạch định chính sách, xây dựng quy hoạch… Đây là loại công chức “học thuật” không giữ chức vụ quản lý song đứng ở ngạch cao cấp, có bậc lương cao. Loại công chức này rất được kính trọng ở các nước.

Nhưng gia nhập ngạch công chức cao cấp ở nước ta hiện nay rất khó khăn với những ai không có chức vụ. Nghĩa là ngạch này hầu hết dành cho công chức quản lý. Thiếu loại công chức “học thuật” này, nên các cơ quan thường nan giải khi đưa ra hướng giải quyết các vấn đề phức tạp, tổng thể. Việc phát hiện các vấn đề trong hành chính và kiến nghị biện pháp giải quyết cũng liên quan nhiều đến năng lực của loại công chức hiện đang khan hiếm này.

Đọc tiếp »

LÀM LUẬT VÀ LỢI ÍCH BỘ, NGÀNH…

TƯ GIANG

Các nhà soạn thảo luật Giáo dục ở bộ Giáo dục và đào tạo vẫn đang ôm món nợ với Quốc hội và đặc biệt là người dân: họ đã khất lần không chịu thể chế hoá tới 27 nội dung trong luật Giáo dục ban hành cách đây bốn năm dưới dạng các văn bản hướng dẫn. Dù vậy, bộ này tiếp tục trình xin Quốc hội sửa luật Giáo dục tại kỳ họp đang diễn ra.

Không riêng bộ Giáo dục, các bộ khác cũng đang nợ việc hướng dẫn tới 300 nội dung trong các luật chuyên ngành thuộc lĩnh vực họ quản lý dù các luật đó đã được Quốc hội thông qua từ lâu. Trong số đó, các bộ luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, môi trường, doanh nghiệp là tồn đọng nhiều nhất. Như vậy, về nhiều góc độ, các bộ luật đó khó mà triển khai tốt trong thực tế do thiếu nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Uỷ viên uỷ ban Pháp luật của Quốc hội Ngô Văn Minh nói: “Vì sao các bộ không có hướng dẫn thi hành luật, gây khó khăn cho cuộc sống của người dân và doanh nghiệp? Đó là do họ né tránh, giành phần thuận lợi về phía mình với tư cách là nhà quản lý, đẩy phần khó về phía người dân”.

Quả vậy, không giống nhiều nước khác trên thế giới, các bộ luật chuyên ngành ở Việt Nam thường được các bộ phụ trách soạn thảo rồi mới trình Quốc hội thông qua. Có nghĩa là, nói một cách đơn giản, các cơ quan hành pháp đang chia sẻ nhiều trách nhiệm với cơ quan lập pháp. Thực tế này đã dẫn đến tình trạng “giành phần thuận lợi” cho các cơ quan quản lý trong tiến trình xây dựng luật và hướng dẫn thi hành luật.

Không thiếu ví dụ để chứng minh thực tế này. Các chuyên gia soạn thảo luật Bưu chính đang trình Quốc hội xem xét đã đề nghị bảo vệ vị trí độc quyền của tổng công ty Bưu chính Việt Nam. Như vậy, họ đã cố gắng thuận lợi hoá việc quản lý nhà nước và ngăn cản các doanh nghiệp khác chen chân vào lĩnh vực này.

Đọc tiếp »

CÔNG VĂN SỐ 3895/BTP-THA NGÀY 6 THÁNG 11 NĂM 2009 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ ÁP DỤNG QUI ĐỊNH CHUYỂN TIẾP TRONG KIỆN TOÀN, BỔ NHIỆM CÁC CHỨC DANH LÃNH ĐẠO, CHẤP HÀNH VIÊN…

Kính gửi:

- Cục trưởng Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,

Thực hiện Luật thi hành án dân sự, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự (sau đây gọi chung là Nghị định số 74/2009/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2009. Trong khi chờ kiện toàn tổ chức, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, bổ nhiệm Chấp hành viên theo ngạch mới v.v, Bộ Tư pháp đề nghị các đồng chí lưu ý thực hiện một số nội dung sau đây:

1. Về con dấu

Căn cứ Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc thành lập Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh và Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh khẩn trương phối hợp với cơ quan Công an có thẩm quyền để làm thủ tục khắc lại con dấu cho phù hợp với tên gọi mới của cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương mình, bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong hoạt động của cơ quan.

2. Về lãnh đạo cơ quan thi hành án dân sự

Kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2009 (ngày Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc thành lập Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh, Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện có hiệu lực thi hành), những địa phương chưa có Quyết định về việc bổ nhiệm Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục Thi hành án dân sự (đối với cấp tỉnh), Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự (đối với cấp huyện) thì tạm thời áp dụng như sau:

a) Trường hợp ban hành văn bản, quyết định liên quan đến hoạt động nghiệp vụ thi hành án

Đọc tiếp »