VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. NGUYỄN ĐỨC LUẬN – Đại học Lâm Nghiệp

Trong bài viết này, tác giả đã luận giải một số vấn đề cơ bản liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần. Đó là, thứ nhất, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là kết quả do sự nhận thức và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, thể hiện tư duy mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thứ hai, khẳng định có những thành phần kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình, song cũng có thành phần kinh tế còn nhiều yếu kém, bất cập. Theo tác giả, bên cạnh việc phát triển mạnh mẽ kinh tế nhà nước, chúng ta cần tập trung phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước.

Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cơ bản là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó đến nay, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội và luôn đạt mức tăng trưởng cao. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới nói chung và chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ những tiêu cực do nền kinh tế nhiều thành phần gây ra, đặc biệt là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu lịch sử. Trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền thì không thể thủ tiêu chế độ t ư hữu ngay lập tức đư­ợc mà phải cải tạo nó dần dần. Đến Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, sau khi giành được thắng lợi chính trị, giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản.

Đọc tiếp »

TRANH CHẤP SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG: CHIA TÀI SẢN THEO NGUỒN GỐC, CÔNG SỨC ĐÓNG GÓP ĐỐI VỚI TÀI SẢN LIÊN QUAN ĐẾN 20 TỜ VÉ SỐ ĐỘC ĐẮC!?

VĨNH SƠN – HỒNG TÚ

Theo luật sư bảo vệ cho chị A., số tiền trúng số trên có được trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nên phải xem là tài sản chung và phải được chia đều. Tòa nói công sức đóng góp kẻ nhiều người ít cũng chưa thuyết phục. Nếu nói chị A. không có hoặc có ít công sức đóng góp lại càng bất hợp lý…

Ngày 9-12-2009, TAND tỉnh An Giang hoãn phiên xử phúc thẩm vụ án không công nhận là vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị A. và anh Trần Văn T vì lấn cấn chuyện chia tài sản liên quan đến 20 tờ vé số độc đắc.

Năm 2008, anh T. và chị A. tổ chức đám cưới (chưa đăng ký kết hôn) và họ sống bằng nghề bán vé số dạo. Có tật hay ngủ quên nên anh T. thường “ôm” vé số ế. Có lần vợ anh phải cầm cả đôi bông tai ngày cưới lấy tiền trả nợ cho đại lý. Nghèo nhưng gia đình nhỏ của họ vẫn ấm cúng.

Ngày 25-3-2009, anh T. nhận của đại lý 200 tờ vé số (loại 5.000 đồng/tờ) đi bán nhưng đến chiều vẫn còn 40 tờ vé số ế. Thất thểu về nhà với 40 tờ vé số ế thì anh T. hay tin mình trúng số. Trong đó có 20 tờ trúng đặc biệt và 20 tờ trúng an ủi. Tổng giá trị giải thưởng anh T. nhận là hơn 2,5 tỉ đồng. Sau đó mâu thuẫn vợ chồng phát sinh nhưng hai người vẫn sống chung. Sau khi xây mới căn nhà, còn lại 1,4 tỉ đồng anh T. mang gửi ngân hàng…

Ngày 27-8, TAND huyện Thoại Sơn không công nhận hai người là vợ chồng vì không đăng ký kết hôn. Số tiền 1,4 tỉ đồng do trúng số mà có là tài sản tồn tại trong thời gian chung sống với nhau. Tuy lý luận như vậy nhưng khi chia tài sản này thì tòa quyết: anh T. nhận 80% trên tổng giá trị giải thưởng (tương đương 1 tỉ 120 triệu đồng), còn chị A. chỉ được 280 triệu đồng. Lý do là anh T. trực tiếp đi bán vé số, bị ế nên trúng thưởng, còn chị A. ít có công sức đóng góp. Cho rằng mình bị tòa xử ép, chị A. kháng cáo.

Theo luật sư bảo vệ cho chị A., số tiền trúng số trên có được trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau nên phải xem là tài sản chung và phải được chia đều. Tòa nói công sức đóng góp kẻ nhiều người ít cũng chưa thuyết phục. Nếu nói chị A. không có hoặc có ít công sức đóng góp lại càng bất hợp lý…

Đọc tiếp »

THÔNG TƯ SỐ 38/2009/TT-BXD NGÀY 8 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN VIỆC QUẢN LÝ SỬ DỤNG NHÀ BIỆT THỰ TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ

Căn cứ Nghị định số 17/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Nghị định số 29/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về quản lý kiến trúc đô thị;
Bộ Xây dựng hướng dẫn việc quản lý sử dụng nhà biệt thự tại khu vực đô thị như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này điều chỉnh việc quản lý sử dụng đối với nhà biệt thự tại khu vực đô thị, kể cả những biệt thự đã được sửa chữa, cải tạo.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng bao gồm chủ sở hữu, người sử dụng nhà biệt thự; các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc quản lý sử dụng nhà biệt thự.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Đọc tiếp »

CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ QUA LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, CÔNG ƯỚC CISG VÀ BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT

NGUYỄN THỊ HỒNG TRINH – Khoa Luật, Đại học Huế

Đối với hợp đồng thương mại quốc tế, khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng, một trong những chế tài được áp dụng phổ biến là bồi thường thiệt hại (1). Luật Thương mại Việt Nam 1997 và 2005 đều dành điều khoản (Điều 229 Luật 1997 và Điều 320 Luật 2005) để quy định vấn đề này. Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước CISG) cũng dành Mục II Chương 5 cho chế tài bồi thường thiệt hại. Bộ nguyên tắc của Unidroit (2) về hợp đồng thương mại quốc tế (sau đây gọi tắt là Bộ nguyên tắc Unidroit) dành Mục 4 Chương 7 để thống nhất các vấn đề về bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, những quy định trên lại có những điểm khác biệt trong thuật ngữ, trong cách giải thích và trong thực tế áp dụng. Nằm trong nỗ lực hài hòa hóa pháp luật cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, bài viết sẽ phân tích những điểm còn khác biệt giữa những quy định trên.

1. Sự khác biệt và bổ trợ giải thích cho nhau giữa ba văn bản về chế tài bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng3. Luật Thương mại Việt Nam 2005 quy định về chế tài bồi thường thiệt hại tại Điều 302. Chế tài này sẽ được áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi luật điều chỉnh hợp đồng là luật Việt Nam.

“Điều 302: Bồi thường thiệt hại

1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm4”.

Đọc tiếp »

TỪ QUAN NIỆM CỦA C.MÁC VỀ “XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU” SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. VŨ THỊ KIỀU PHƯƠNG – Viên Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Tiếp cận quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” từ hai vấn đề: một là, chế độ tư hữu đã gây ra tội lỗi gì khiến cho nó cần phải bị xóa bỏ; hai là, nếu “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết, là tất yếu thì thời điểm lịch sử của sự kiện đó là khi nào, bài viết chỉ ra rằng, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu”chỉ có thể xảy ra một cách nội tại và tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của xã hội. Cuối cùng, bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa quan niệm của C.Mác về “xóa bỏ chế độ tư hữu” với quan điểm của Đảng ta về vấn đề sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhất là vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân.

1. Chúng ta đều biết rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội. Song, trong thực tế, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng, bởi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa “là vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ”. Ngay nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta “cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã hoàn chỉnh ngay từ đầu, mà còn phải trải qua một quá trình xây dựng rất lâu dài”(1); do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu nói chung, sở hữu tư nhân nói riêng. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng chỉ rõ, sở hữu và thành phần kinh tế là một trong những vấn đề chưa được làm rõ “ở tầm quan điểm và chủ trương lớn”, nên chúng ta “chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành”(2). Sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng đó còn có nguyên nhân do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vẫn đang trong quá trình hình thành, nên mối quan hệ giữa thể chế xã hội chủ nghĩa và nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được làm rõ.

Đọc tiếp »

CÂU CHUYỆN SỞ HỮU NHÀ CHUNG CƯ

LS. TỐNG QUANG MINH

“Cha chung không ai khóc” là suy nghĩ tiêu cực cần khắc phục trong các nhà chung cư hiện nay. Nếu cư dân không nhận thức như vậy thì sẽ tạo điều kiện cho chủ đầu tư xây dựng công trình nhà ở cao tầng có thể lợi dụng suy nghĩ kiểu “cha chung” này để trục lợi khi công trình hoàn thành; thiệt hại gây ra từ mâu thuẫn giữa chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng có thể gánh chịu bởi chính cư dân trong nhà cao tầng đó.

Tại sao ? Bởi vì phần sở hữu chung trong nhà chung cư có thể được khai thác như phần sở hữu riêng của chủ đầu tư, lợi ích thu vào không được hoàn trả cho cư dân; trong khi đó mắc mứu giữa chủ đầu tư và chủ thầu xây dựng có thể làm kéo dài việc xúc tiến thủ tục hoàn thành công trình, dẫn đến sự chậm trễ cho cư dân nhận được giấy chứng nhận quyền sở hữu căn hộ để làm phương tiện thực hiện các giao dịch dân sự khác cho gia đình mình.

Tại khoản 1 Điều 225 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về sở hữu chung trong nhà chung cư quy định: “Phần diện tích , trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư thuộc sở hữu chung của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không thể phân chia, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc có sự thỏa thuận của tất cả các chủ sở hữu.”

Phần sở hữu chung trong nhà chung cư đã được quy định rõ tại khoản 3 Điều 70 của Luật Nhà ở năm 2005 và khoản 6 Điều 4 của Quy chế Quản lý Sử dụng Nhà Chung cư được Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008, bao gồm: (a) Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng quy định tại khoản 2 Điều này; (b) Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư, gồm khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, sân thượng, hành lang, cầu thang bộ, thang máy, đường thoát hiểm, lồng xả rác, hộp kỹ thuật, nơi để xe, hệ thống cấp điện, nước, ga, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, thoát nước, bể phốt, thu lôi, cứu hỏa và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của căn hộ nào; (c) Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với nhà chung cư đó.

Đọc tiếp »

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

NGUYỄN MINH HẢI – Ban Thực hiện chính sách BHXH Việt Nam

Bảo hiểm thất nghiệp là một chính sách của Đảng và Nhà nước mới được ban hành, nhằm hoàn thiện hệ thống các chính sách an sinh xă hội ở nước ta. Mục tiêu của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, đồng thời tạo điều kiện để họ có cơ hội t́m kiếm được việc làm mới thích hợp và ổn định trong thời gian sớm nhất.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, để góp phần giải quyết t́nh trạng mất việc làm trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đă có Công ước số 44 ngày 04/6/1934 về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp. Trên cơ sở của Công ước này, nhiều nước đă ban hành chính sách về bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, nói chung ở các nước trên thế giới, trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp thường là chế độ ra đời muộn nhất bởi phạm vi thất nghiệp không thể dự báo được chính xác như các chế độ khác, hơn nữa việc quản lư bảo hiểm thất nghiệp là khó khăn do đó vấn đề xác định tài chính của bảo hiểm thất nghiệp luôn là trở ngại khi thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mặt khác, chúng ta cũng phải hiểu rằng chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ cực kỳ hữu ích trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế với sự gia tăng của số người thất nghiệp nhưng lúc này đồng nghĩa với việc quỹ bảo hiểm thất nghiệp giảm đi nhanh chóng do bội chi và như vậy, tính bảo hiểm sẽ không c̣n nữa.

Một điểm cần lưu ư nữa là vấn đề quản lư. Nếu không quản lư được đối tượng đồng nghĩa với việc không thành công của chế độ bảo hiểm này bởi lẽ không biết người lao động đang hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp có việc lại lúc nào để ngừng hưởng trợ cấp. Cũng v́ vấn đề này mà năm 1990 Ấn Độ đă cho ra đời chế độ bảo hiểm thất nghiệp rồi đến năm 1992 lại phải ngừng lại v́ không quản lư được.

Đọc tiếp »

CÔNG VĂN SỐ 3621/BHXH-THU NGÀY 7 THÁNG 12 NĂM 2009 CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM HƯỚNG DẪN TỈ LỆ ĐÓNG BHXH, BHYT, BHTN, MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG

Kính gửi:

Các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

- Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế;
- Căn cứ Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 của Chính Phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế;
- Căn cứ Nghị định số 97/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động và các thông tư hướng dẫn thực hiện số 35/2009/TT-BLĐTBXH, số 36/2009/TT-BLĐTBXH ngày 13/11/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;
- Căn cứ Nghị định số 98/2009/NĐ-CP ngày 30/10/2009 của Chính phủ, quy định mức lương tối thiểu đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam.
Sau khi trao đổi thống nhất với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội thành phố hướng dẫn một số quy định mới về BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc theo Luật BHXH, Luật BHYT áp dụng từ ngày 01/01/2010 như sau;

1/ Tỉ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN:

Từ ngày 01/01/2010 tỉ lệ đóng BHXH là 22%; BHYT là 4.5%; BHTN là 2%. Trong đó, người sử dụng lao động đóng 16% BHXH; 3% BHYT; 1% BHTN, người lao động đóng 6% BHXH; 1.5% BHYT; 1% BHTN.

2/ Mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN:

- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

- Người lao động đóng BHXH, BHYT, BHTN theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động gồm mức lương chính hoặc tiền công và phụ cấp được ghi tại khoản 1 Điều 3 trong bản hợp đồng lao động.

Đọc tiếp »

KÝ KẾT HỢP ĐỒNG: LINH HOẠT ĐIỀU KHOẢN GIÁ

TS. NGUYỄN MINH HẰNG – Đại học Ngoại thương

Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng. Vì thế, các DN khi ký kết hợp đồng cần có những lưu ý thích đáng để tránh những tranh chấp phát sinh từ việc hiểu lầm hay không thống nhất về mức giá và cách thức xác định giá.

Tranh chấp giữa người mua Pháp – Cty Fauba Fidis GC Electronique và người bán Đức – Cty Fujitsu Mikroelectronik Gmbh. Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng và liên quan đến việc xác định giá của hàng hóa. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa Phúc thẩm Paris. Điều 14 của Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Người mua gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán. Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Người mua đã đồng ý về việc này. Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng. Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên. Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để xác định số lượng và giá cả”.

Đọc tiếp »

TẬP ĐOÀN: Ý NGHĨA KINH TẾ VÀ NGUY HIỂM TRƯỚC MẮT

VŨ QUANG VIỆT

bài viết này nhằm trình bày quan niệm và thực tế về công ty (trong đó có tập đoàn nếu nó là công ty có tư cách pháp nhân) và sự kiểm soát về mặt luật pháp mà các nước phát triển đang thực hiện.  Bài viết cũng bàn thêm về những điều cần tăng cường kiểm soát ở Việt Nam nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế.

Tập đoàn là gì?

Trước tiên cần định nghĩa tập đoàn kinh tế là gì. Trong tiếng Anh có hai từ: conglomerate và holding company. Đồng thời phải kể thêm hai từ xuất phát từ châu Á: keiretsu của Nhật Bản và chaebol của Hàn Quốc.

Từ tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau. Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiện nay ở Việt Nam. Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại di động, và sau này vì một lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởng quyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấp dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân hàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT…

Điểm căn bản đưa đến việc thành lập tập đoàn là nó cho phép một công ty đang tạo ra nhiều lợi nhuận, nhưng lại không thể phát triển mạnh thêm vì thị trường bão hòa, hướng vào ngành sản xuất mới có khả năng phát triển mạnh hơn trong tương lai.

Đọc tiếp »

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỂ LÀM GÌ?

NGUYÊN NGỌC

Vừa rồi tôi có được đọc một bài báo rất đứng đắn nói về sự lãng phí trong nghiên cứu khoa học đang phổ biến ở nước ta hiện nay. Phải nói đây không phải là bài đầu tiên nhắc đến chuyện này, và cũng như rất nhiều lần trước đây, tất cả những điều nêu ra ở bài báo này về tình trạng đáng buồn trong việc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học hiện nay ở ta đều đúng:

Nhiều đơn vị nghiên cứu khoa học chẳng hề coi việc nghiên cứu khoa học là công việc thường xuyên, khi có kinh phí thì rộ lên, khi không có hoặc ít kinh phí thì xẹp xuống; có kinh phí thì tiêu tốn một cách hình thức, hội họp tiếp khách, hội thảo liên miên, thưa gửi chào mừng đủ lệ bộ mà chẳng có mấy nội dung thiết thực; phân bổ đề tài nghiên cứu thì bình quân chủ nghĩa, anh được nhận đề tài thì tôi cũng phải được nhận đề tài, xem kinh phí nghiên cứu khoa học là để góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho cán bộ khoa học vốn đồng lương quá ít ỏi đề tài nghiên cứu thì trùng lặp, làm theo lối phong trào, ngoài xã hội đang có vấn đề thời sự gì, trên đang có chủ trương cụ thể gì thì đổ xô nhau vào đất một kiểu “cơ hội chủ nghĩa” chẳng mấy khi chịu khi đi vào những vấn đề cơ bản, có tính phát hiện và có ý nghĩa lâu dài; nghiệm thu thì hình thức, phản biện thì nể nang, để gọi là cho có, công trình nào cũng đưa đánh giá xuất sắc, nhưng rồi chẳng để làm gì cả. Đấy là chưa kể cơ quan, đoàn thể nào cũng đua nhau đã làm công trình nghiên cứu khoa học, rất nhiều khi có cần nghe qua tên đề tài đã thấy thật vớ vẩn… Rốt cuộc, lãng phí tiền của Nhà nước và nhân dân, mà khoa học chẳng được gì, xã hội cũng chẳng được gì.

Tình hình đáng buồn, phổ biến và kéo dài đó chắc ai ít nhiều có quan tâm đến lĩnh vực này đã biết, biết đã lâu rồi, đến mức… ngán ngẩm, gần như bất lực, “biết rồi, khổ lắm…”, chẳng buồn nói nữa.

Đọc tiếp »

BÀI HỌC TỪ MỘT HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU

LS. VÕ NHẬT THĂNG – Trọng tài viên VIAC

Các doanh nghiệp (DN) xuất nhập khẩu Việt Nam (VN) cần mạnh dạn chuyển sang mua FOB bán CIF thay cho thực tế là đại bộ phận hợp đồng đều mua CIF bán FOB. Bởi lẽ, khi phía VN mua hàng theo điều kiện CIF hoặc CFR thì người bán nước ngoài sẽ tìm thuê những con tàu nhiều tuổi, lai lịch không rõ ràng với giá cước thấp. Câu chuyện dưới đây là minh chứng.

Cuối năm 2006 một DN ở Hà Nội  nhập  lô hàng thức ăn chăn nuôi trị giá 1.400.000 USD, từ một Cty  ở Singapore theo điều kiện CFR-Incoterms 2000,  cảng TP HCM và Hải Phòng. Người bán đã mua hàng này của nhà sản xuất ở Ấn Độ. Hai bên đã nhanh chóng giao kết hợp đồng mua bán. Trong các điều khoản về vận tải, không có điều nào đề cập về tình trạng pháp lý của con tàu cũng như chủ tàu. Theo điều kiện CFR, người bán  đã thuê tàu PLJ của chủ tàu BJS ở Hong Kong chở lô hàng về VN. Sau khi tàu PLJ rời cảng xếp hàng, người bán nhanh chóng chuyển vận đơn cùng bộ chứng từ cho người mua và nhận đủ tiền hàng theo phương thức thanh toán bằng L/C. Nhưng 4 ngày trước khi tàu PLJ cập cảng VN, khi đang đi qua eo biển Malaysia, tàu bị cảnh sát Malaysia bắt giữ vì có bằng chứng đây là con tàu của một chủ tàu Indonesia bị hải tặc cưỡng đoạt 4 năm trước.

Ngay lập tức người bán thông báo cho người mua  biết vụ việc. Họ  giải thích rằng họ đã nhận đủ tiền bán hàng và phía người mua cũng đã nhận đủ bộ chứng từ hợp lệ, điều này cũng đồng nghĩa là họ đã hoàn thành mọi nghĩa vụ giao hàng và về măt pháp lý họ không chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra vì theo điều kiện CFR rủi ro về hư hỏng mất mát hàng hóa đã chuyển tư người bán sang người mua kể từ khi hàng qua lan can tàu ở cảng xếp hàng. Phía người mua ngay lập tức phản đối lập luận của người bán và yêu cầu họ phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Tuy vậy khi đọc lại hợp đồng mua bán  không thấy có quy định nào buộc người bán phải bồi thường trong trường hợp này. Cũng có ý kiến cho rằng cần làm việc với hãng bảo hiểm để đòi bồi thường (lô hàng  được mua bảo hiểm của BMI và BVI ở VN). Tuy nhiên phía bảo hiểm khẳng định  theo điều kiện bảo hiểm ICC 1982 (Institute Cargo  Clauses 1982, Mục 6.2, Điều khoản miễn trừ) phía bảo hiểm được miễn mọi trách nhiệm trong trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát khi tàu bị bắt giữ. Một số ý kiến khác lại cho rằng cần nhanh chóng khởi kiện hãng tàu để đòi bồi thường. Tuy vậy theo Bộ luật hàng hải VN (Điều 78, Khoản 2, Mục g) cũng như thông lệ quốc tế (Công ước Hague-Visby Rules, Quy tắc IV, Khoản 2, Mục g) người vận chuyển cũng được thoát trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa xảy ra trong trường hợp tàu bị bắt giữ.

Đọc tiếp »

PHÂN BỔ NGHĨA VỤ LIÊN QUAN ĐẾN VẬN CHUYỂN, BẢO HIỂM HÀNG HÓA VÀ CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

ĐỖ MINH TUẤN – Công ty Luật Châu Á (AsiaLaw)

Thực tế, các nhà xuất khẩu khập đã quá quen thuộc với Incoterms 2000 và đặc biệt là với FOB, CIF và CFR. Ngoài ra đối với hàng hóa được vận chuyển theo phương thức vận tải đa phương thức công – ten – nơ thì các điều kiện thương mại FCA, CPT và CIP cũng thường được sử dụng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chủ yếu phân tích về các điều kiện FOB, CIF và CFR và giới thiệu qua về FCA, CPT và CIP.

1. FOB (Free on board – Giao hàng lên tàu)

Điều kiện FOB (viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh “Free on Board” dịch sang tiếng Việt là “Giao hàng lên tàu”) có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa đã qua lan can tàu tại cảng bốc hàng chỉ định. Vậy quy định như thế này có ý nghĩa gì trong việc phân bổ chi phí, rủi ro liên quan đến hàng hóa trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

1.1. Ranh giới phân định rủi ro – Lan can tàu

“Lan can tàu” là ranh giới được sử dụng lâu đời trong tập quán thương mại quốc tế để phân định rủi ro vì nó rõ rang, dễ hiểu và dễ chấp nhận. “Lan can tàu” là ranh giới phân định rủi ro được hiểu như sau:

-    Bên bán phải chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hóa cho tới thời điểm hàng hóa qua lan can tàu tại cảng bốc hàng chỉ định.

-    Bên mua chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hóa kể từ thời điểm hàng hóa qua lan can tàu tại cảng bốc hàng chỉ định.

Các trường hợp thông thường thì cứ chiếu theo qui tắc trên để phân chia rủi ro, tuy nhiên trong trường hợp sau đây thì rủi ro sẽ được phân chia như thế nào:

Đọc tiếp »

TRANH CHẤP GIAO DỊCH DÂN SỰ: MÁY TÍNH XÁCH TAY GIÁ . . . 0 ĐỒNG

HOÀNG LAM

Giảm 100% giá bán là vi phạm điều cấm của pháp luật.

Đêm 27 rạng sáng 28-11 – 2009, gia đình bà Châu Lệ Quyên (TP Vĩnh Long, Vĩnh Long) đã đặt mua thành công 35 máy tính xách tay của Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động (quận 1, TP.HCM). Theo thông tin đăng tải trên trang web thegioididong.com, giá bán của các sản phẩm này được giảm 100%, tức chỉ có… 0 đồng.

Bên đòi mua, bên không chịu bán

Hôm sau, phía công ty cho bà Quyên biết chương trình khuyến mãi giá bán sản phẩm trên mạng đến mức 0 đồng không có thật, chẳng qua trang web bị sự cố kỹ thuật. Để bù đắp cho khách hàng, công ty đề nghị tặng cho người đầu tiên phát hiện ra lỗi một phiếu mua hàng trị giá 300.000 đồng.

Ngày 2-12, tại buổi gặp gỡ giữa hai bên, phía công ty tiếp tục khẳng định không có chương trình giảm giá đến mức 0 đồng mà chỉ là lỗi kỹ thuật, đồng thời đề nghị tặng cho khách hàng một phiếu mua hàng trị giá 1 triệu đồng. Tuy nhiên, gia đình bà Quyên kiên quyết yêu cầu công ty bán hàng đúng giá đã thông tin trên trang web.

Đến nay, phía công ty đã nâng mức bù đắp cho bà Quyên bằng cách giảm giá 50% khi bà Quyên mua một sản phẩm máy tính xách tay có giá dưới 10 triệu đồng. Trò chuyện với báo Pháp Luật TP.HCM, bà Quyên cho rằng gợi ý này của công ty chỉ nhằm cảm ơn gia đình bà đã phát hiện được sự cố kỹ thuật trên trang web của công ty. Còn giao dịch mua bán được hai bên xác lập thì công ty chưa đề xuất hướng xử lý. Bà đề nghị công ty nếu không bán 35 máy thì cũng phải bán cho gia đình bà tám máy theo đúng mức giá là 0 đồng.

Đọc tiếp »

THU HỒI, HỦY BỎ GIẤY KHAI SINH NÀO LÀ HỢP LÝ?

NGUYỄN THANH XUÂN

Điều 78 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện trong quản lý nhà nước về hộ tịch. Theo đó, UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trong địa phương mình, có nhiệm vụ và quyền hạn ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định tại Nghị định 158. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết việc thu hồi và hủy bỏ giấy tờ hộ tịch cấp trái quy định pháp luật đã dẫn đến một số khó khăn cho cán bộ hộ tịch và người dân.

Tháng 7.1991, ông Võ Thành Lâm đến UBND xã L.T, huyện L.V, tỉnh Đồng Tháp đăng ký khai sinh cho con là Võ Thành Son với năm sinh 1991. Tháng 5.1997 ông lại đến UBND xã L.T đăng ký tiếp cho con ông một giấy khai sinh nữa với năm sinh năm 1990. Hiện tại Võ Thành Son có hai bản chính giấy khai sinh với hai năm sinh khác nhau là 1990 và 1991. Xuất phát từ việc đăng ký giấy khai sinh thứ hai với năm sinh 1990, con ông Lâm đã xác lập các hoạt động học tập, đăng ký các giấy tờ nhân thân của mình như chứng minh nhân dân, hộ khẩu gia đình… với năm sinh là năm 1990. Tháng 3.2009, ông Võ Thành Lâm đến UBND huyện L.V, Đồng Tháp yêu cầu hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 với lý do con ông có hai giấy khai sinh và chỉ sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1997. Xem xét hồ sơ học tập cùng các giấy tờ nhân thân khác của Võ Thành Son sử dụng năm sinh  1990, UBND huyện L.V ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 để đương sự có thể sử dụng giấy khai sinh đăng ký năm 1997 cho phù hợp với các giấy tờ nhân thân.

Về sự việc này, nhiều ý kiến cho rằng, UBND huyện L.V ra Quyết định thu hồi, hủy bỏ giấy khai sinh đăng ký năm 1991 của Võ Thành Son là không đúng quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo quy định tại Điểm k, Khoản 1, Điều 78 Nghị định 158, UBND cấp huyện có quyền ra quyết định thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định.

Đọc tiếp »

LUẬT CÔNG CHỨNG VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

TS. LÊ QUỐC HÙNG – Đại học Đông Đô

Hoạt động của công chứng có liên quan đến quyền lực nhà nước. “Công chứng là lấy quyền công ra mà làm chứng”. Thế nhưng không nhất thiết chỉ công chứng nhà nước mới có thể nhân danh công quyền được tốt. Quản lý nhà nước tốt thì có thể giao quyền đó cho một số tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động công chứng như một loại dịch vụ công. Đây là cách làm mới ở nước ta, nhưng các nước phát triển đã thực hiện từ khá lâu việc xã hội hóa các dịch vụ công rất hiệu quả.

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Đảng đã chủ trương khuyến khích các tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cho xã hội. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân”… “Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng”, “… phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong nhân dân, của toàn xã hội để cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội và chăm lo phát triển các dịch vụ công cộng” (1).

Trên cơ sở các kết quả đã đạt được trong việc thực hiện xã hội hoá một số lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, Nhà nước tiếp tục cho phép xã hội hoá hoạt động công chứng. Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng gồm 8 chương, 67 điều quy định về công chứng, xác lập cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thực hiện xã hội hoá hoạt động công chứng, tạo điều kiện để công dân và tổ chức được thụ hưởng tốt nhất loại hình dịch vụ công quan trọng này.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề xã hội hoá hoạt động công chứng được thể hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, hoạt động công chứng là hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ công, không sử dụng quyền lực công. Các công chứng viên không có quyền lực ban hành các mệnh lệnh hành chính, quyết định hành chính như các cơ quan chức năng của chính quyền. Khi hành nghề, công chứng viên hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, hành nghề khách quan, trung thực, tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng. Mỗi Văn phòng công chứng hay Phòng Công chứng là những đơn vị độc lập, chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan tư pháp địa phương. Cần xã hội hoá hoạt động công chứng để giảm tải cho các phòng công chứng của Nhà nước, nhằm tạo điều kiện để cho người dân được sử dụng loại hình dịch vụ này một cách thuận tiện.

Đọc tiếp »

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TỪ CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN VÀ NHỮNG BẤT CẬP CẦN HOÀN THIỆN

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA

Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được áp dụng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, nhất là chuyển nhượng hợp đồng góp vốn nhận quyền mua nền nhà, căn hộ và hợp đồng mua nhà hình thành trong tương lai tại các dự án nhà ở, đang gây nhiều tranh luận, thắc mắc, cả về tính pháp lý lẫn những vướng mắc trong áp dụng. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, tôi cho rằng có hai vấn đề lớn cần tiếp tục tranh luận và hoàn thiện đó là:

1. Người nộp thuế có quyền lựa chọn hay cơ quan thuế có quyền áp đặt phương pháp tính thuế ?

Theo điều 14, điều 23 Luật thuế thu nhập cá nhân và điều 22 Nghị định: 100/2008/NĐ-CP thì thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được tính theo một trong hai phương pháp sau:

a) Áp dụng thuế suất 25% trên thu nhập tính thuế (giá bán – [giá mua + chi phí] = thu nhập tính thuế);

b) Áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng trong trường hợp không xác định được giá mua chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng (Chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hóa đơn theo quy định của pháp luật).

Thực tế khi áp dụng luật thuế TNCN cho thấy vướng mắc bởi rất nhiều trường hợp chỉ xác định được giá mua theo hợp đồng chứ không xác định được chi phí hoặc không xác định được đầy đủ chi phí. Đặc biệt một số trường hợp cơ quan thuế cho rằng đã xác định được giá mua và chi phí nên áp thuế suất 25% trên thu nhập tính thuế (lãi), nhưng người nộp thuế không đồng ý. Trường hợp này giải quyết ra sao?

Đọc tiếp »

NHẦM LẪN TRONG CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG SỬA ĐỔI BỘ LUẬT DÂN SỰ

TS. ĐỖ NGỌC ĐẠI – Đại học Luật TPHCM

Dẫn nhập

Hợp đồng là kết quả của sự ưng thuận giữa các bên. Trong thực tế, không hiếm trường hợp sự ưng thuận này có «khiếm khuyết» và nhìn chung, pháp luật hợp đồng các nước đều dự liệu ba trường hợp «khiếm khuyết» cho phép tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Đó là nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa trong quá trình giao kết hợp đồng. Ở Việt Nam, vấn đề xử lý lừa dối hay đe dọa trong giao kết hợp đồng đã tồn tại khá sớm. Một số quy định trong Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ 15) đã tiềm ẩn những quy định về hai «khiếm khuyết» này. Chẳng hạn, về lừa dối, theo Điều 187, Bộ luật Hồng Đức, “trong các chợ tại kinh thành và thôn quê, những người mua bán không theo đúng cân, thước, thăng, đấu của Nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc đồ”. Tương tự, theo điều 190 «người dùng thăng, đấu, cân, thước để mua bán lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm». Cũng tương tự, Điều 191 phạt “những người làm đồ khí dụng giả dối và vải lụa ngắn hẹp để đem bán” 50 roi, giáng hạ một bậc, và bắt sung công hàng hóa. Vềđe dọa, theo Điều 198, Bộ luật Hồng Đức, “những người từ chối không tiêu tiền đồng bị sứt mẻ hoặc đòi giá hàng quá cao mới bán, hay là đóng cửa hàng không bán để bán giấu ở trong nhà, thì đều phải tội hạ bậc và bắt diễu đi trước công chúng 3 ngày. Những hàng hóa nói trên đều bị tịch thu sung công. Những người cậy quyền mua hàng ức hiếp, thì cũng bị tội như thế”. Tương tự, theo Điều 355, Bộ luật Hồng Đức, “người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người khác thì phải biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua”. Tuy nhiên, trong cổ luật Việt Nam, việc xử lý khiếm khuyết trên mang nhiều màu sắc hình sự hơn dân sự so với pháp luật đương đại.

Đọc tiếp »